TS. Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
Thưa ông, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, đột phá chiến lược đầu tiên trong 3 đột phá chiến lược của nhiệm kỳ mới là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển. Ông đánh giá thế nào về kết quả thực hiện nhiệm vụ rất quan trọng này?
Ngay từ Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta đã xác định, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là đột phá chiến lược đầu tiên, coi đây là tiền đề quyết định cho các đột phá khác. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh, phải “hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng” hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đây chính là kim chỉ nam cho mọi nỗ lực lập pháp, cải cách thể chế suốt nhiệm kỳ qua.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, công tác hoàn thiện thể chế đã đạt nhiều kết quả ấn tượng, toàn diện, đồng bộ. Quốc hội khóa XV ban hành số lượng luật lớn chưa từng có; riêng kỳ họp thứ mười (cuối nhiệm kỳ) đã thông qua 51 luật và 8 nghị quyết, khoảng 30% tổng số văn bản lập pháp của cả nhiệm kỳ. Các đạo luật mới trải rộng trên mọi lĩnh vực.
Đáng chú ý, lần đầu tiên chúng ta ban hành đồng bộ loạt luật về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo (Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Công nghệ cao, sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ…), tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho các ngành công nghệ mới, tăng tốc chuyển đổi số, đưa khoa học - công nghệ thành động lực chính của tăng trưởng.
Đồng thời, nhiều luật quan trọng khác về thương mại điện tử, an ninh mạng, đất đai, quy hoạch… cũng được ban hành, góp phần hoàn thiện khung khổ pháp luật phát triển bền vững. Quốc hội còn kịp thời tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế bằng các cơ chế, chính sách đặc thù cho TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, giúp các đô thị lớn có không gian thể chế linh hoạt, tăng quyền chủ động để phát triển.
Nhờ những nỗ lực đồng bộ đó, chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh quốc gia đã được cải thiện rõ rệt. Nhiều vướng mắc về thủ tục, pháp lý được tháo gỡ, tạo niềm tin mạnh mẽ cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia, tăng 32 bậc so với năm 2013. Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh và sáng tạo của nền kinh tế đã nâng lên tầm cao mới nhờ cú hích thể chế.
Đúng như mục tiêu Đảng đề ra, thể chế đang dần trở thành “đột phá của đột phá” và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Những thành quả nổi bật ấy tạo tiền đề để đất nước tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới, khơi dậy niềm tin và kỳ vọng lớn trong toàn xã hội vào tương lai tươi sáng của đất nước.
![]() |
Việc ban hành đồng bộ loạt luật về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho các ngành công nghệ mới, tăng tốc chuyển đổi số, đưa khoa học - công nghệ thành động lực chính của tăng trưởng. Ảnh: Đức Thanh |
Tại Kỳ họp cuối cùng của nhiệm kỳ này, Quốc hội đã thông qua khối lượng luật đồ sộ (nhiều nhất từ trước tới nay), trong đó có nhiều luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Với cương vị Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội - cơ quan chủ trì thẩm tra các dự án luật này, ông có thể cho biết, chính sách nào là đột phá nhất, sẽ tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện các đột phá chiến lược khác (nhân lực, hạ tầng), đặc biệt là với mục tiêu tăng trưởng 2 con số ngay năm đầu nhiệm kỳ mới.
Trong hàng loạt đạo luật mới được thông qua nhằm thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Luật Chuyển đổi số năm 2025 được coi là chính sách đột phá nhất. Lần đầu tiên, Việt Nam có một đạo luật thiết lập khung pháp lý thống nhất cho chuyển đổi số quốc gia, luật hóa các khái niệm và công cụ quản trị số, qua đó khắc phục tình trạng manh mún “mỗi nơi một kiểu” trước đây.
Đặc biệt, Luật quy định, dành tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hằng năm cho chuyển đổi số, một cam kết mạnh mẽ của Nhà nước, huy động nguồn lực đáng kể để phát triển hạ tầng số và triển khai các dự án số hóa trọng điểm. Lãnh đạo Đảng cũng yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, loại bỏ lối nghĩ “không quản được thì cấm”; Luật Chuyển đổi số chính là minh chứng cho tư duy quản lý mới đó khi tạo hành lang pháp lý thông thoáng thúc đẩy các lĩnh vực công nghệ mới.
Luật Chuyển đổi số cũng đặt con người ở vị trí trung tâm của tiến trình này. Luật chú trọng phát triển nhân lực số và thu hẹp khoảng cách số: yêu cầu mọi cấp, mọi ngành đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số cho người lao động; ưu tiên nguồn lực chuyển đổi số cho nông thôn, vùng khó khăn; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Đồng thời, chất lượng nguồn nhân lực sẽ được nâng cao, người dân mọi vùng miền đều được tiếp cận thành quả công nghệ, góp phần thực hiện đột phá phát triển nhân lực chất lượng cao.
Về hạ tầng, nguồn lực tài chính do Luật Chuyển đổi số tạo ra sẽ thúc đẩy xây dựng hạ tầng số hiện đại trên phạm vi toàn quốc. Từ mạng viễn thông, Internet băng rộng đến các nền tảng dữ liệu và trung tâm dữ liệu quốc gia sẽ được đầu tư đồng bộ, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế số phát triển. Chính sách chuyển đổi số này vì thế sẽ cộng hưởng mạnh mẽ với các đột phá chiến lược khác về nhân lực và hạ tầng, tạo sức mạnh tổng hợp đưa đất nước bứt phá.
Với khung pháp lý thuận lợi và nguồn lực dồi dào từ Luật Chuyển đổi số, chúng ta có cơ sở để kỳ vọng bứt phá tăng trưởng ngay từ năm đầu nhiệm kỳ mới. Chuyển đổi số sâu rộng sẽ nâng cao năng suất lao động, hình thành mô hình kinh doanh mới, đóng góp quan trọng để GDP tăng trưởng 2 con số. Định hướng kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030, mục tiêu tham vọng này cũng trở nên khả thi nhờ những quyết sách táo bạo như Luật Chuyển đổi số.
Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng (bản công bố lấy ý kiến nhân dân) xác định: Xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế số, nhất là công nghệ tài chính, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, các ngành công nghệ mới… Vậy theo ông, những nhiệm vụ nào trong hoàn thiện thể chế cần được đặc biệt quan tâm để thực hiện cho được định hướng quan trọng này?
Để thực hiện thành công định hướng “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” như Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIV đề ra, theo tôi, cần đặc biệt chú trọng một số nhiệm vụ hoàn thiện thể chế sau.
Thứ nhất, khẩn trương hoàn thiện khung pháp luật cho các mô hình kinh tế số mới, ưu tiên tài chính số (fintech) và tài sản số. Cần sớm ban hành cơ chế thí điểm (sandbox) cho các dịch vụ fintech; đồng thời xây dựng hành lang pháp lý cho các loại tài sản số (tiền mã hóa, tài sản ảo) để làm rõ quyền sở hữu, quản lý và giao dịch đối với những tài sản mới này.
Tránh “khoảng trống pháp lý” và theo đúng tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW - thể chế phải đi trước một bước, không “không quản được thì cấm”, pháp luật cần cho phép thử nghiệm một cách linh hoạt, kịp thời điều chỉnh khi thực tiễn biến đổi nhằm vừa quản lý được rủi ro vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực này.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế dữ liệu, thành phần cốt lõi của kinh tế số. Cần sớm ban hành quy định toàn diện về khai thác, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu: xác định rõ quyền sở hữu, trách nhiệm quản lý dữ liệu (nhất là dữ liệu cá nhân, dữ liệu lớn); cho phép hình thành thị trường mua bán dữ liệu minh bạch; khuyến khích doanh nghiệp, cơ quan nhà nước chia sẻ dữ liệu liên ngành.
Song song đó, tăng cường các quy định về an ninh mạng, bảo vệ quyền riêng tư và an toàn thông tin trong quá trình chuyển đổi số. Khi dữ liệu được quản lý, khai thác hiệu quả và an toàn, dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, hoàn thiện khung pháp lý cho các công nghệ mới nổi và ngành công nghiệp tương lai. Dự thảo Văn kiện lần thứ XIV của Đảng yêu cầu, xây dựng pháp luật cho các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính, thương mại điện tử và các ngành công nghệ mới. Hiện nay, một số luật về trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao, thương mại điện tử... đã được ban hành; nhiệm vụ tiếp theo là sớm ban hành văn bản hướng dẫn đồng bộ để các quy định này đi vào cuộc sống.
Đồng thời, tiếp tục rà soát, bổ sung pháp luật cho các lĩnh vực công nghệ cao khác, bảo đảm không để khoảng trống pháp lý cản trở phát triển. Cần có chính sách ưu đãi phù hợp để thu hút đầu tư vào các ngành công nghệ mũi nhọn, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực này.
