Diễn đàn Kinh tế mới Việt Nam lần thứ 4, năm 2026 với chủ đề “Chính sách đột phá và sức bật của địa phương, doanh nghiệp” do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đồng chủ trì, diễn ra trong thời điểm Việt Nam bước vào quý cuối của năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, cùng nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng về mô hình phát triển, tài chính quốc gia, đầu tư công và mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.
Những con số của 9 tháng đầu năm cho thấy nền kinh tế đang giữ được đà tăng trưởng. GDP quý I tăng 7,83%, quý II tăng 8,39%, quý III tăng 9,95%, đưa tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%. Xuất khẩu đạt khoảng 434,3 tỷ USD, tăng 24,5%; FDI thực hiện 8 tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%; giải ngân đầu tư công đạt 643 nghìn tỷ đồng, bằng 62,9% kế hoạch.
Nhưng phía trước vẫn là một bài toán khó: làm thế nào để những chính sách đã được xác lập được chuyển hóa thành kết quả cụ thể hơn ở địa phương, doanh nghiệp và cuối cùng là đời sống người dân.
Từ chính sách đúng đến kết quả đo được
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng những kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm mới là bước đầu. Sức bật giữa các địa phương, khu vực doanh nghiệp chưa đồng đều và vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ.
Thực tế cho thấy, dù tăng trưởng 9 tháng đạt 9,01%, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng trên 10% cả năm, quý IV cần tăng 12,5%. Công nghiệp - xây dựng tăng thấp hơn 1,1% so với mục tiêu cả năm; tiêu dùng 9 tháng chưa tạo được đột phá; đầu tư tư nhân chỉ tăng 14%. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tháng 9 giảm 26,3% so với cùng kỳ, trong khi tỷ lệ thất nghiệp thanh niên 9 tháng gần 8,9%.
Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra không chỉ là đã ban hành bao nhiêu chính sách, mà là chính sách được thực thi đến đâu và tạo ra thay đổi gì. Ông Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ chủ trương đúng sang đột phá về thực thi, trong đó cần thay đổi phương thức quản lý nhà nước, “kiên quyết chấm dứt tư duy ‘không quản được thì cấm’, chuyển trọng tâm từ tiền kiểm sang hậu kiểm và quản lý theo kết quả đầu ra”.
Quan trọng hơn, hiệu quả thực thi cần được đo bằng những thay đổi mà doanh nghiệp có thể cảm nhận được.
“Phải thể hiện được kết quả thực hiện nghị quyết của Đảng bằng việc doanh nghiệp thực tế đã cắt giảm được bao nhiêu ngày chờ đợi thủ tục, bao nhiêu chi phí tuân thủ”, ông Nghị nói.
![]() |
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng phát biểu tại Sự kiện |
Phát biểu tại Diễn đàn, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cũng đặt trọng tâm vào khâu tổ chức thực hiện, yêu cầu “chuyển mạnh từ tư duy ban hành chính sách sang tư duy tổ chức thực hiện và đo lường kết quả”. Theo đó, mục tiêu phải được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ với “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và kết quả”, đồng thời gắn kết quả, sản phẩm và tiến độ với trách nhiệm của người đứng đầu.
Những thay đổi bước đầu đã được phản ánh bằng các chỉ số cụ thể. Trong 9 tháng đầu năm, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã tập trung hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn. Quốc hội được trình sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới 84 luật, nghị quyết; Chính phủ ban hành 823 văn bản quy phạm pháp luật. Thời gian thực hiện thủ tục hành chính giảm khoảng 53%, chi phí tuân thủ giảm khoảng 55%.
Tuy nhiên, cải cách thể chế không chỉ dừng ở việc giảm thời gian hay chi phí. Theo bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, Campuchia và Lào, Việt Nam đang bước vào một mô hình phát triển mới, chuyển từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
“Bước đột phá tiếp theo của Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào quy mô đầu tư, mà quan trọng hơn là năng lực triển khai cải cách hiệu quả và biến những thay đổi đó thành đời sống tốt hơn cho người dân”, bà Mariam J. Sherman nhấn mạnh.
Theo WB, trọng tâm của thể chế cần chuyển từ kiểm soát đầu vào sang đánh giá kết quả. Với đầu tư công, giáo dục, y tế hay quản lý nhà nước, câu hỏi không chỉ là thủ tục đã đúng hay ngân sách đã được giải ngân, mà là người dân và doanh nghiệp nhận được gì. Khi kết quả được đo lường và gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, từng người, cùng với dữ liệu tốt hơn và Chính phủ số, cách thức vận hành của cả hệ thống sẽ thay đổi.
Đáng chú ý, WB ước tính nếu hiệu quả chi đầu tư của Việt Nam đạt mức bình quân của các nước ASEAN-5, tăng trưởng có thể tăng thêm tương đương 1 điểm phần trăm GDP mỗi năm mà không cần đầu tư thêm. Như vậy, cải cách thể chế không đứng bên ngoài câu chuyện tăng trưởng. Chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi tự thân là một nguồn lực của tăng trưởng.
Sức bật chưa lan đều
Một trong những điểm đáng chú ý của bức tranh kinh tế 9 tháng là sự phân hóa về sức bật. Đã có 12/34 tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng trưởng GRDP hai con số, trong khi 27/34 địa phương có tốc độ tăng trưởng quý III cao hơn quý II. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã mạnh dạn đi vào những lĩnh vực mới và khó như ô tô điện, hàng không, hạ tầng chiến lược, năng lượng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và dịch vụ số.
Nhưng mới chỉ 12/34 địa phương đạt tăng trưởng hai con số. Khoảng cách giữa khu vực kinh tế trong nước và FDI vẫn lớn: 9 tháng, xuất khẩu khu vực trong nước tăng 6,1%, trong khi khu vực FDI tăng 29,2%. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tạo được cú hích đủ rộng; theo Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 của VCCI được dẫn tại Diễn đàn, chỉ khoảng 8,8% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sản phẩm, dịch vụ; 93,5% khoản vay vẫn đòi hỏi tài sản thế chấp và chỉ 6-8% doanh nghiệp thường xuyên dự đoán được các thay đổi chính sách.
Với địa phương, việc vận hành chính quyền hai cấp mở ra không gian phát triển mới, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu lớn hơn về năng lực thực thi. Các tỉnh, thành phố sau hợp nhất có điều kiện tổ chức lại phát triển theo lợi thế và tăng cường liên kết vùng, song phải xử lý đồng thời những vấn đề về quy hoạch, đất đai, thủ tục đầu tư và đội ngũ cán bộ.
Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, phân cấp, phân quyền phải đi cùng trách nhiệm giải trình. Trung ương không làm thay địa phương, cấp tỉnh không ôm giữ những việc cấp xã có thể làm tốt; nhưng để mô hình này vận hành hiệu quả, năng lực thực thi ở cấp cơ sở phải được nâng lên tương ứng.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cũng nhìn nhận sức bật giữa các địa phương còn chưa đồng đều. Phân cấp, phân quyền đã mở thêm không gian phát triển, nhưng năng lực thực thi ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu; áp lực tại cấp cơ sở trong quản lý đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng và chuyển đổi số còn lớn. Với doanh nghiệp, bài toán không chỉ nằm ở việc tiếp tục tháo gỡ các điều kiện kinh doanh, mà còn là tạo môi trường để doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
"Sức bật của khu vực doanh nghiệp trong nước có nhiều chuyển biến, song vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu. Doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực và thị trường. Sản xuất, xuất khẩu còn phụ thuộc đáng kể vào khu vực FDI và đầu vào nhập khẩu; liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, năng lực hấp thụ công nghệ và phần giá trị gia tăng giữ lại trong nước chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, cần hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ, tiếp cận thị trường, thúc đẩy liên kết thực chất, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh", Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nói.
![]() |
| Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào, Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn |
Ở góc nhìn của WB, bà Mariam J. Sherman nhận định, chính sách đột phá cần được thiết kế đồng bộ giữa đầu tư công, doanh nghiệp tư nhân và nguồn thu ngân sách. Hạ tầng giao thông có thể giảm chi phí logistics, mở thị trường mới và tạo điều kiện cho thương mại, du lịch, nhưng hạ tầng thôi chưa đủ. Doanh nghiệp vẫn cần một môi trường thuận lợi để thành lập, vận hành và mở rộng quy mô.
Du lịch là một ví dụ. Việt Nam mỗi năm đón hơn 20 triệu lượt khách quốc tế và hơn 130 triệu lượt khách nội địa, nhưng doanh thu du lịch vẫn khiêm tốn và tăng chậm hơn nhiều so với lượng khách. Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, cần tháo gỡ các điểm nghẽn để phát huy nguồn lực này, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn mới.
Bởi vậy, mở rộng không gian phát triển mới chỉ là điều kiện ban đầu. Điều quyết định là năng lực quản trị, khả năng lớn lên của doanh nghiệp, năng lực đổi mới công nghệ và mức độ liên kết để gia tăng giá trị trong nước.
Bài toán 1.450 tỷ USD
Nếu thể chế là điều kiện để nguồn lực được giải phóng, thì nguồn vốn là một trong những yếu tố quyết định khả năng hiện thực hóa các mục tiêu của chu kỳ tăng trưởng mới. Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng đạt trên 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%, nhưng mới đáp ứng hơn 60% nhu cầu. Vấn đề không chỉ là lượng vốn được huy động, mà còn ở khả năng chuyển hóa nguồn lực thành sản lượng và năng lực sản xuất thực tế. Với giai đoạn 2026-2030, quy mô nhu cầu vốn còn lớn hơn nhiều.
Theo Giám đốc WB Mariam J. Sherman, kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1.450 tỷ USD, trong đó 80% dự kiến đến từ khu vực tư nhân.
“Nguồn lực công không thể đáp ứng nhu cầu này một mình. Hệ thống ngân hàng cũng không nên phải gánh vác phần lớn trách nhiệm, bởi cơ sở hạ tầng có vòng đời dài cần nguồn tài chính dài hạn. Hơn nữa, nếu vốn ngân hàng tập trung quá nhiều vào hạ tầng, doanh nghiệp có thể khó tiếp cận tín dụng để phát triển”, bà Mariam J. Sherman nói.
Bài toán vì thế nằm ở đa dạng hóa cấu trúc nguồn vốn. Một hướng đi là phát triển thị trường trái phiếu trong nước theo chiều sâu. Quy mô thị trường hiện vẫn nhỏ so với Thái Lan và Malaysia, trong khi cơ sở nhà đầu tư cần được mở rộng, thay vì chủ yếu dựa vào ngân hàng và công ty bảo hiểm trong nước. Cùng với đó là chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, phù hợp với kế hoạch của Chính phủ đến năm 2030.
“Việc nâng hạng tín nhiệm sẽ giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước và cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Một điều rõ ràng là tài chính luôn đi cùng rủi ro: khi Nhà nước nhận thêm các cam kết mới, việc đo lường và giám sát rủi ro một cách minh bạch sẽ giúp kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn, đồng thời có thể góp phần giảm chi phí vay nếu xếp hạng tín nhiệm được cải thiện”, bà Mariam J. Sherman nói.
![]() |
Toàn cảnh Diễn đàn |
Nguồn vốn tư nhân, theo Giám đốc WB, cũng chỉ thực sự vào hạ tầng nếu những rủi ro mà nhà đầu tư phải đối mặt có thể được xử lý. Hiện nay, doanh thu của nhiều dự án khó dự tính, công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá còn hạn chế và các điều khoản hợp đồng chưa đủ ổn định để họ yên tâm đầu tư. Các dự án cũng có thể gặp khoảng trống tài chính mà hình thức cho vay ngân hàng truyền thống chưa phù hợp để xử lý, chẳng hạn như yêu cầu về kỳ hạn vay dài và quy mô vốn lớn.
Theo WB, đây là lúc các giải pháp kết hợp nhiều nguồn vốn có thể phát huy tác dụng. Vốn nhà nước, vốn vay ưu đãi và vốn tư nhân có thể được đưa vào một cơ chế chung để tài trợ hạ tầng, với quy định rõ ràng, quản lý chuyên nghiệp và thông tin minh bạch. Cơ chế đó có thể cung cấp nguồn tài chính dài hạn bằng nội tệ mà các ngân hàng khó đáp ứng; cung cấp bảo lãnh và các công cụ tăng cường tín dụng để xử lý những rủi ro cụ thể; đồng thời hỗ trợ công tác chuẩn bị dự án để các bộ, ngành và địa phương xây dựng danh mục dự án sẵn sàng thu hút đầu tư.
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nếu được quản lý chặt chẽ, những cơ chế như vậy có thu hút nguồn vốn tư nhân ở quy mô lớn”, bà Mariam J. Sherman nhấn mạnh.
Nhìn từ những vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn, yêu cầu của chu kỳ tăng trưởng mới đã rõ hơn: chính sách phải tạo ra thay đổi có thể đo lường; phân cấp phải đi cùng năng lực và trách nhiệm; nguồn lực phải được huy động đa dạng và quan trọng hơn là được hấp thụ hiệu quả.
Tăng trưởng cao vì thế không chỉ là câu chuyện của những con số GDP. Đó phải là quá trình chuyển hóa chính sách thành năng suất, nguồn vốn thành năng lực sản xuất, không gian phát triển thành cơ hội kinh doanh và đổi mới sáng tạo thành giá trị gia tăng. Đó cũng là thước đo thực chất nhất của một chính sách đột phá: không dừng ở việc được ban hành mà phải tạo ra sức bật nhìn thấy được ở địa phương, doanh nghiệp và nền kinh tế.


