Bộ Công thương đốc địa phương báo cáo tình hình 363 dự án nguồn điện

0:00 / 0:00
0:00
Bộ Công Thương đã yêu cầu các địa phương đẩy nhanh tiến độ 363 dự án nguồn điện với tổng công suất hơn 43.000 MW trong giai đoạn 2026-2028, khi nhu cầu điện cho tăng trưởng kinh tế ngày càng lớn, trong khi nhiều dự án nguồn điện trọng điểm vẫn chưa vượt qua giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Trong danh sách 363 dự án được yêu cầu rà soát có nhiều dự án năng lượng tái tạo.

Trong danh sách 363 dự án được yêu cầu rà soát có nhiều dự án năng lượng tái tạo.

Thúc tiến độ nguồn điện mới cho giai đoạn 2027-2028

Bộ Công Thương có Văn bản số 8583/BCT-ĐL gửi UBND các tỉnh, thành phố, yêu cầu đôn đốc chủ đầu tư hoặc khẩn trương lựa chọn nhà đầu tư đối với các công trình, dự án nguồn điện cần ưu tiên triển khai trong giai đoạn 2026-2028.

Động thái này được thực hiện sau cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, được Văn phòng Chính phủ thông báo tại Văn bản số 531/TB-VPCP ngày 17/10/2026.

Đáng chú ý, Bộ Công Thương không chỉ yêu cầu bảo đảm tiến độ theo danh mục dự án kèm theo, mà còn đặt ra trách nhiệm cụ thể đối với những công trình có nguy cơ chậm trễ. Các địa phương phải phân tích nguyên nhân, xác định cơ quan hoặc đơn vị có trách nhiệm xử lý, đề xuất giải pháp, thời hạn hoàn thành và báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Tiến độ các dự án nguồn điện phải được cập nhật và gửi về Bộ Công Thương, thông qua Cục Điện lực, định kỳ ngày 25 hằng tháng. Có 363 dự án nguồn điện với tổng công suất hơn 43.000 MW được liệt kê trong danh sách.

Yêu cầu này cho thấy việc phát triển nguồn điện mới đang được đặt trong cơ chế theo dõi tiến độ thường xuyên, thay vì chỉ dừng ở việc phân bổ công suất trong quy hoạch. Trên thực tế một dự án điện có tên trong quy hoạch mới là điều kiện ban đầu; việc lựa chọn được nhà đầu tư, hoàn thành thủ tục, thu xếp vốn, xây dựng và đưa nhà máy vào vận hành mới quyết định khả năng bổ sung nguồn cung thực tế cho hệ thống điện quốc gia.

Danh mục kèm theo văn bản của Bộ Công Thương trải rộng trên nhiều khu vực, từ miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ đến Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Các nguồn điện được ưu tiên khá đa dạng, gồm điện mặt trời, điện gió, thủy điện, điện khí, nhiệt điện than, điện sinh khối, điện rác và điện mặt trời mái nhà.

Tại khu vực miền núi phía Bắc, riêng Sơn La có danh mục nguồn điện với tổng công suất quy hoạch 2.479,5 MW. Trong đó, dự án điện mặt trời nổi lòng hồ thủy điện Sơn La công suất 800 MW được bố trí mốc vận hành tháng 6/2027. Lai Châu có tổng công suất trong danh mục là 1.951,2 MW, với hai dự án điện mặt trời Bản Chát 1 và 2 có tổng công suất 550 MW, dự kiến vận hành tháng 3/2027.

Ở đồng bằng sông Hồng, nguồn điện mặt trời mái nhà được đặt kỳ vọng đóng góp đáng kể. Hải Phòng có 3.617 MW công suất điện mặt trời mái nhà tăng thêm trong giai đoạn 2026-2030, với mốc đưa vào vận hành trong danh mục là tháng 9/2027. Hà Nội có 894 MW, còn Ninh Bình có 2.323 MW điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại các khu công nghiệp.

Những con số này cho thấy định hướng huy động thêm nguồn điện ngay tại các khu vực có nhu cầu sử dụng lớn, nhất là khu công nghiệp, nhằm giảm một phần nhu cầu nhận điện từ lưới điện trong những thời điểm nguồn năng lượng mặt trời có khả năng phát điện.

Tại khu vực Tây Nam Bộ, Cần Thơ có danh mục nguồn điện lên tới 5.295,6 MW. Trong đó, tổ máy 1 Nhà máy Nhiệt điện Long Phú I công suất 600 MW được bố trí vận hành tháng 3/2028; Nhà máy điện Ô Môn IV công suất 1.050 MW vào tháng 9/2028. Các dự án Ô Môn III và Ô Môn II, mỗi dự án 1.050 MW, có mốc vận hành tháng 9/2029.

Ở Đông Nam Bộ, dự án LNG Hiệp Phước giai đoạn I công suất 1.200 MW được đưa vào danh mục với mốc vận hành quý I/2029. Tại Khánh Hòa, Nhà máy Thủy điện tích năng Bác Ái công suất 1.200 MW có mốc vận hành tháng 12/2029.

Đây đều là những dự án có quy mô đủ lớn để tạo ra thay đổi đáng kể về năng lực nguồn điện khi được đưa vào vận hành. Đặc biệt, nguồn điện khí có thể góp phần đáp ứng nhu cầu phụ tải và hỗ trợ điều chỉnh công suất hệ thống, trong khi thủy điện tích năng giúp tăng khả năng lưu trữ, điều tiết điện năng giữa các thời điểm trong ngày.

Một điểm đáng chú ý khác nằm ở phần ghi chú cuối danh mục. Bộ Công Thương yêu cầu các địa phương phải bảo đảm tổng quy mô công suất đưa vào vận hành theo cơ cấu nguồn điện từng năm ở mức tối thiểu như danh mục; tiến độ các dự án có thể được đẩy sớm hơn và những dự án không đạt tiến độ phải có phương án thay thế.

Như vậy, trọng tâm điều hành không chỉ là hoàn thành từng dự án riêng lẻ, mà còn phải bảo đảm tổng công suất nguồn điện bổ sung theo từng năm. Khi một dự án chậm tiến độ, việc tìm kiếm nguồn thay thế phải được tính đến để tránh tạo ra khoảng trống nguồn cung cho hệ thống điện.

Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4.

Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4.

Nhiều dự án điện lớn vẫn chưa vượt qua giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Sự cấp thiết của việc đẩy nhanh đầu tư nguồn điện càng thể hiện rõ khi đối chiếu danh mục ưu tiên với tình hình triển khai các dự án trọng điểm được Bộ Công Thương báo cáo Quốc hội gần đây.

Theo Báo cáo số 850/BC-BCT, trong danh mục công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2634/QĐ-TTg ngày 2/12/2025, có 18 dự án nhiệt điện LNG và một dự án nhiệt điện than, chưa tính các dự án điện hạt nhân.

Trong số này, mới có hai dự án LNG khởi công là Nhà máy Nhiệt điện LNG Thái Bình vào tháng 10/2025 và Nhà máy Nhiệt điện LNG Hiệp Phước giai đoạn I vào tháng 3/2026. Nhà máy Nhiệt điện than Long Phú I đang thi công, trong khi 14 dự án LNG khác vẫn đang hoàn thiện các bước chuẩn bị đầu tư.

Hai dự án LNG Nghi Sơn và Long Sơn thậm chí chưa lựa chọn được nhà đầu tư.

Điều đó có nghĩa là phần lớn các dự án LNG trọng điểm vẫn chưa bước vào giai đoạn xây dựng. Khoảng cách giữa công suất nguồn điện được quy hoạch với khả năng đưa công suất ấy vào vận hành thực tế đang là thách thức lớn đối với việc bảo đảm cung ứng điện trong những năm tới.

Theo Bộ Công Thương, tiến độ các dự án LNG chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, từ thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng đến đàm phán hợp đồng mua bán điện, hợp đồng cung cấp khí và thu xếp tài chính. Đặc biệt, các dự án LNG đòi hỏi phát triển đồng bộ cả chuỗi hạ tầng gồm cảng biển, kho chứa, hệ thống tái hóa khí, đường ống và nhà máy điện. Chỉ cần một mắt xích chậm trễ cũng có thể ảnh hưởng đến tiến độ toàn bộ dự án.

Không chỉ điện LNG, các chuỗi dự án khí - điện lớn cũng đang đối mặt với những khó khăn riêng. Bộ Công Thương đánh giá chuỗi Lô B - Ô Môn có tiến độ tích cực, nhưng vẫn cần hoàn tất các thỏa thuận thương mại đối với các nhà máy Ô Môn II, III và IV.

Chuỗi Cá Voi Xanh chưa thể tái khởi động do khâu thượng nguồn chậm, còn chuỗi LNG Sơn Mỹ tiếp tục gặp khó khăn trong chuẩn bị đầu tư và cơ sở pháp lý cho việc đàm phán hợp đồng BOT.

Đối với các dự án thủy điện trọng điểm, trong chín dự án thuộc danh mục theo dõi, mới có hai dự án đang thi công là Thủy điện Trị An mở rộng và Thủy điện tích năng Bác Ái. Bảy dự án còn lại vẫn đang hoàn thiện thủ tục chuẩn bị đầu tư, gồm các dự án tích năng Đơn Dương, Phước Hòa và năm dự án mở rộng thủy điện hiện hữu.

Những vướng mắc này cho thấy phát triển nguồn điện không đơn thuần là câu chuyện tìm kiếm nhà đầu tư hay huy động vốn. Đây còn là bài toán về sự đồng bộ của chính sách, khả năng thực thi thủ tục và phân định trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp.

Cũng theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong 43 dự án lưới điện truyền tải trọng điểm giai đoạn 2026-2030, có 10 dự án đã triển khai thi công, trong đó hai dự án đã hoàn thành đóng điện; 33 dự án còn lại đang hoàn thiện thủ tục đầu tư.

Bởi vậy, yêu cầu các địa phương xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và thời hạn xử lý đối với từng dự án chậm tiến độ có ý nghĩa quan trọng. Bộ Công Thương cũng kiến nghị xem xét trách nhiệm và áp dụng chế tài theo quy định đối với những dự án kéo dài tình trạng chậm trễ.

Quan trọng hơn, Bộ Công thương cũng yêu cầu phải có phương án thay thế đối với các dự án không đạt tiến độ cho thấy việc bảo đảm cung ứng điện không thể phụ thuộc hoàn toàn vào những mốc vận hành dự kiến trên giấy.

Tin bài liên quan