Khơi nguồn cho kỷ nguyên phát triển mới

0:00 / 0:00
0:00
Dù đối diện với những cú sốc chưa từng có, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn từng bước phục hồi và tăng tốc, bứt phá trong giai đoạn 5 năm (2021-2025), tạo nền tảng cho một kỷ nguyên phát triển mới.
Vượt qua khó khăn, thách thức, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng 8,02%, tạo tiền đề cho tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới

Vượt qua khó khăn, thách thức, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng 8,02%, tạo tiền đề cho tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới

Từ “chống chịu” đến “bứt phá”

Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đã dành một thời lượng đáng kể để đánh giá về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và cơ đồ của đất nước sau 40 năm Đổi mới. Trong đó, các thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội đã được nhấn mạnh.

“Phát triển kinh tế, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả quan trọng, nổi bật”, Dự thảo Báo cáo Chính trị nêu rõ.

Hàng loạt chỉ số kinh tế vĩ mô đã được nhắc đến, từ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,3%, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới, đến quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỷ USD, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 của thế giới; GDP bình quân đầu người trên 5.000 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Cùng với đó, chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến tích cực, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%, vượt mục tiêu đề ra (45%)...

“Nếu không tính năm 2021, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 khiến tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,55%, thì giai đoạn 4 năm (2022-2025), tăng trưởng bình quân đạt 7,13%, vượt mục tiêu 6,5-7%”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng phát biểu trong phiên Chính phủ họp trực tuyến với chính quyền các địa phương mới đây.

Kế hoạch 5 năm (2021-2025) đã bắt đầu bằng những khó khăn chưa từng có tiền lệ. Đại dịch Covid-19 bắt đầu lan rộng vào năm 2020, đã khiến tăng trưởng GDP giảm tốc rất mạnh, từ mức 7,02% của năm 2019, xuống chỉ còn 2,91% trong năm 2020, sau đó tiếp tục giảm xuống còn 2,58% trong năm 2021. Năm 2021 - năm đầu tiên của Kế hoạch 5 năm (2021-2025), thậm chí tăng trưởng GDP quý III còn giảm tới 6,02% so với cùng kỳ, đánh dấu một giai đoạn khó khăn chưa từng có của nền kinh tế Việt Nam.

Nhưng rồi từng bước, bằng chiến lược mở cửa lại nền kinh tế một cách hợp lý, bằng việc thực hiện tổng lực Chương trình Phục hồi và Phát triển kinh tế - xã hội 2022-2023, nền kinh tế đã từng bước phục hồi, rồi tăng tốc. Năm 2022, tăng trưởng GDP đạt tốc độ 8,02%. Khó khăn nối tiếp khó khăn, đà tăng trưởng chậm lại trong năm 2023, với con số 5,05%, nhưng ngay sau đó lại tiếp tục tăng tốc, với 7,09% trong năm 2024 và bứt phá, với 8,02% trong năm 2025.

Tốc độ tăng trưởng này, nếu đặt trong bối cảnh tăng trưởng GDP của Singapore chỉ là 4,8%; Thái Lan 2-2,2%; Indonesia 4,9%..., mới thấy hết ý nghĩa của nó. Thế nên, khi Việt Nam chính thức công bố con số tăng trưởng năm 2025, ông Phar Kim Beng, nhà nghiên cứu về ASEAN và quan hệ quốc tế, trong bài viết đăng trên trang Free Malaysia Today, đã nhấn mạnh rằng, tốc độ tăng trưởng 8,02% của Việt Nam đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trên khắp châu Á.

Theo ông Phar Kim Beng, kết quả trên không phải là ngẫu nhiên, mà là “thành quả của một quá trình tái định vị kinh tế có tính toán”, trong đó các điểm yếu được chuyển hóa thành động lực tăng trưởng. “Thành công của Việt Nam đang dần trở thành một chuẩn tham chiếu quan trọng đối với các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Nam Á”, ông Phar Kim Beng nhận xét.

Đây không phải là lần đầu tiên, thế giới có những đánh giá tích cực như vậy về nền kinh tế Việt Nam. Giữa thời điểm Covid-19, cũng như trong những năm đầu nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu phục hồi, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Klaus Schwab đã nói về Việt Nam như một điểm sáng của tăng trưởng toàn cầu.

“Việt Nam sẽ sớm trở thành một trong 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới”, ông Klaus Schwab khẳng định.

Trong khi đó, phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF 2025) mới đây, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho rằng, nếu như ít năm trước đây, một đặc điểm của nền kinh tế luôn được nhắc tới là “sức chống chịu còn yếu”, thì giờ đây, có thể tự tin nói rằng, nền kinh tế đã “đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài”.

Và không chỉ là tăng trưởng, những thành tựu quan trọng của nền kinh tế trong giai đoạn 2021-2025 còn là kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn được đảm bảo; thể chế, hạ tầng không ngừng được hoàn thiện; thu hút đầu tư nước ngoài, xuất nhập khẩu… đều liên tiếp đạt các kỷ lục mới.

Khi bàn về những thành quả mà Việt Nam đạt được trong giai đoạn này, Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam Ramla Khalidi cũng đã nhấn mạnh về một thành tựu quan trọng khác. Đó là Chỉ số Phát triển con người (HDI) cao và đang tiếp tục được cải thiện.

Theo báo cáo của UNDP, 5 năm qua, Chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng 18 bậc. Chỉ số Hạnh phúc năm 2025 cũng đã xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020. Các chính sách an sinh xã hội được đảm bảo. Một minh chứng là mới đây, Chính phủ đã thực hiện thành công chiến dịch Quang Trung, xây sửa nhà cho người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

“Tăng trưởng kinh tế đã gắn chặt hơn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, ưu tiên bố trí nguồn lực cho an sinh xã hội, phát triển con người, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt”, GS. Nguyễn Anh Trí, đại biểu Quốc hội TP. Hà Nội phát biểu.

“Lửa thử vàng”

Giai đoạn 2021-2025, có thể nói, là chặng đường “thử lửa” của nền kinh tế Việt Nam và “thử bản lĩnh” chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Liên tiếp các cú sốc lớn đã xảy ra: Covid-19, biến động địa chính trị toàn cầu và mới đây là câu chuyện thuế đối ứng của Hoa Kỳ. Nhưng bằng bản lĩnh, sự chủ động và mềm dẻo, linh hoạt, nhưng quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, Chính phủ đã từng bước đưa nền kinh tế vượt các “cơn gió ngược”, để đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện.

Trong khi nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng dương trong Covid-19. Trong khi biến động địa chính trị toàn cầu và chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ khiến thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và xuất nhập khẩu của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng, thì Việt Nam vẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2025, Việt Nam thu hút được trên 38,4 tỷ USD vốn FDI, tăng 0,5% so với năm 2024, còn vốn thực hiện đạt mức kỷ lục 27,62 tỷ USD, tăng 9% trong bối cảnh dòng vốn đầu tư toàn cầu bị thu hẹp. Tính chung, tổng vốn FDI đăng ký giai đoạn 2021-2025 đạt 184,2 tỷ USD, tăng gần 8,4% so với giai đoạn 2016-2020 và thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.

Không chỉ là lượng, mà theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, chất lượng dòng vốn FDI cũng được nâng lên, khi nhiều tập đoàn công nghệ lớn đã chọn Việt Nam là cứ điểm sản xuất. Nhiều dự án lớn trong các lĩnh vực bán dẫn, AI… đã đổ bộ vào Việt Nam.

Tương tự, quy mô thương mại tăng mạnh, từ 545,4 tỷ USD năm 2020, lên mức kỷ lục trên 930 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới. Trong đó, riêng năm 2025, xuất khẩu đạt 475 tỷ USD, tăng 17%; nhập khẩu đạt 455 tỷ USD, tăng 19,4%; xuất siêu năm 2025 đạt trên 20 tỷ USD, cả giai đoạn đạt 88,3 tỷ USD, tăng hơn 2 lần giai đoạn trước.

“Lửa” đã thử cả sự bền bỉ, kiên cường của các doanh nghiệp Việt Nam. Con số gần 297.500 doanh nghiệp được thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2025 - cao nhất từ trước đến nay, tăng 27,4% so với năm 2024 đã cho thấy điều đó. Sức sống mãnh liệt của các doanh nghiệp đã đưa đến con số gần 1,02 triệu doanh nghiệp đang hoạt động ở thời điểm này, tăng hơn 160.000 doanh nghiệp so với năm 2024 và tăng trên 20% so với năm 2020.

Thành quả không tự nhiên mà có. Khi Covid-19 xảy ra, Quốc hội đã ban hành nghị quyết về cơ chế đặc thù cho phòng, chống dịch. Khi dịch bệnh còn chưa kết thúc, Quốc hội và Chính phủ đã chủ động đề xuất một chương trình phục hồi và phát triển kinh tế. Chính phủ đã linh hoạt chuyển hướng chiến lược từ ưu tiên chống dịch sang “vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế”, và đến cuối năm 2023, trọng tâm được chuyển sang tập trung tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

Để có được tốc độ tăng trưởng 8,02% trong năm 2025, tất cả xuất phát từ sự nhanh nhạy, quyết liệt trong điều hành của Chính phủ. Cuối năm 2024, Quốc hội quyết nghị mục tiêu tăng trưởng 6,5-7%, phấn đấu 7-7,5%, nhưng với quyết tâm đưa nền kinh tế tăng tốc, phát triển, Chính phủ đã kiến nghị và được Quốc hội điều chỉnh, thông qua mục tiêu mới: tăng trưởng trên 8%.

“Việc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP lên trên 8% là một quyết sách đúng đắn trong bối cảnh khó khăn”, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương đánh giá.

Từ quyết sách này, Chính phủ tiếp tục sáng tạo trong điều hành. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nền kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng tích cực trong cả giai đoạn 2021-2025, tạo thế và lực cho giai đoạn tiếp theo.

Khơi nguồn cho kỷ nguyên phát triển mới

Sau con số tăng trưởng 8,02% trong năm 2025, Quốc hội đã quyết nghị mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026. Đây là bước đi đầu tiên cho hành trình tăng trưởng 2 con số của giai đoạn 2026-2030, nhằm đạt được các mục tiêu 100 năm vào các dấu mốc 2030 - 2045, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.

Đường đi đã được Đảng chỉ rõ. Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XIV đã đề ra mục tiêu “phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên”; đồng thời cũng chỉ rõ “xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”.

Theo Tổ Biên tập Văn kiện Đại hội XIV, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu GDP bình quân 10%/năm không chỉ là khát vọng, mà còn là thách thức để hoán chuyển thành cơ hội phát triển.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đòi hỏi phải làm tốt nhiều việc.

Đó là phải đưa tỷ lệ đầu tư trên GDP vượt ngưỡng 40%. Hiện nay, Việt Nam đang duy trì tổng mức đầu tư toàn xã hội khoảng 30-35% GDP, chủ yếu tập trung vào các động lực truyền thống. Mô hình mới đòi hỏi nâng cao quy mô đầu tư hiệu quả, mở rộng kênh tài chính xanh, trái phiếu công nghệ và quỹ mạo hiểm đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, Hệ số sử dụng vốn (ICOR) phải duy trì ở mức khoảng 4,5, nghĩa là cần 4,5 đồng vốn đầu tư để tạo ra 1 đồng GDP tăng thêm…

Để tăng trưởng 2 con số, năng suất lao động phải tăng 8,5%/năm - một bước nhảy vọt so với mức 5-6% hiện nay. Tương tự, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) phải đóng góp trên 5,6 điểm phần trăm trong cơ cấu tăng trưởng. Việc cơ cấu lại nền kinh tế cũng phải tập trung vào công nghiệp nền tảng, công nghiệp lõi, chiến lược, công nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng và kinh tế số…

Theo Tổ Biên tập Văn kiện Đại hội XIV, mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030 sẽ khả thi nếu đầu tư đủ mạnh, lao động đủ năng suất và TFP đủ cao, khai thác có hiệu quả thị trường trong và ngoài nước. Thành công phụ thuộc vào sự đồng bộ của chính sách, năng lực thể chế và quyết tâm đổi mới. Khi mô hình tăng trưởng mới vận hành thông suốt, Việt Nam không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số, mà còn tạo nền tảng bền vững cho giai đoạn tiếp theo.

“Tôi rất vui mừng vì trong báo cáo chính trị lần này đã có hẳn mục 4 là xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mục 7 là đột phá về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tôi cho rằng, về mặt kinh tế, đây là 2 nội dung mang tính chất trọng tâm và cũng là 2 con đường rất cơ bản, cốt yếu để có thể phát triển nền kinh tế; để đạt được 2 con số thì bắt buộc phải dựa vào 2 con đường này”, ông Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội bày tỏ.

Nền tảng cho sự khai mở kỷ nguyên phát triển mới đã được đánh dấu bằng hàng loạt nghị quyết mà Bộ Chính trị đã ban hành về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, doanh nghiệp nhà nước, giáo dục, y tế, năng lượng… và bằng cả cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy và tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Khi các điểm nghẽn được gỡ bỏ, khi công cuộc cải cách được tiếp tục triển khai một cách mạnh mẽ, thì đó chính là nền tảng cho sự tăng tốc, phát triển.

Các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026-2030

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1-1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%.

Tổng tích lũy tài sản khoảng 35-36% GDP; tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng khoảng 61-62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP, trong đó tỷ lệ đầu tư công chiếm 20-22%. Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026-2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP.

Tin bài liên quan