Dù đã nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định về thuế, nhiều DN vẫn thấy "tim đập, chân run" mỗi khi nhận quyết định thanh tra thuế

Dù đã nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định về thuế, nhiều DN vẫn thấy "tim đập, chân run" mỗi khi nhận quyết định thanh tra thuế

Các rủi ro liên quan về thuế

(ĐTCK-online) Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế ngày càng được hoàn thiện, người nộp thuế vẫn gặp không ít khó khăn trong quá trình kê khai và nộp thuế.

Cho dù đã nghiên cứu kỹ lưỡng luật thuế cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn để có thể chuẩn bị tờ khai thuế một cách thận trọng nhất, nhiều DN vẫn thấy "tim đập, chân run" mỗi khi nhận quyết định thanh tra thuế và gặp không ít "bất ngờ" trong quá trình làm việc với đoàn thanh tra thuế, hay xử lý các vấn đề chưa được quy định rõ tại các văn bản pháp luật. Vậy đâu là nguyên nhân?

 

Bắt đầu từ cách hiểu về mức ưu đãi thuế TNDN

Cùng với quá trình mở cửa, chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã đưa ra hàng loạt chính sách nhằm khuyến khích, thu hút đầu tư, gồm cả các nguồn đầu tư từ nước ngoài và các nguồn đầu tư trong nước, trong đó có các ưu đãi về thuế thu nhập DN (TNDN). Với sự phát triển của nền kinh tế, các ưu đãi dần được giảm bớt và thay thế bởi các mức ưu đãi phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Mặt trái của quá trình này là có quá nhiều quy phạm pháp luật về ưu đãi thuế từ những thay đổi, cập nhật trong Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, việc hợp nhất giữa Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước thành Luật Đầu tư năm 2005, cùng các quy định đan xen giữa Luật Đầu tư và Luật Thuế TNDN về các điều kiện ưu đãi cũng gây không ít khó khăn cho DN trong việc xác định mức ưu đãi thuế một cách chính xác.

Các rủi ro liên quan về thuế ảnh 1

Ông Nguyễn Mạnh Hà là Chủ nhiệm Bộ phận Dịch vụ thuế và tư vấn, Văn phòng Công ty Ernst&Young tại Hà Nội. Với 7 năm làm việc tại Ernst&Young, ông Hà có nhiều kinh nghiệm trong tư vấn thuế và kế toán, kiểm toán cho các DN trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và ngân hàng. Ông Hà là chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá rủi ro và hoạch định thuế cho các dự án mua bán, sáp nhập, tái cơ cấu DN tại Việt Nam . Ông Hà đã được cấp Chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế Anh Quốc (ACCA), Chứng chỉ tư vấn thuế và hiện là giảng viên cộng tác trong Chương trình đào tạo luyện thi ACCA và Chứng chỉ tư vấn thuế của Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA).

Nhiều DN cho rằng, mức ưu đãi thuế ghi trong giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là chính xác và tiến hành kê khai, nộp thuế theo các mức ưu đãi trong giấy phép. Tuy nhiên, mức ưu đãi thuế này có thể vẫn không chính xác do xác định sai các điều kiện về địa bàn hay lĩnh vực ưu đãi đầu tư, hoặc đơn thuần do DN không đáp ứng được các tiêu chí (như tỷ lệ xuất khẩu hoặc số lượng lao động) theo quy định. Trong trường hợp này, cơ quan thuế có quyền áp dụng mức ưu đãi thấp hơn, dẫn đến việc truy thu thuế.

Đối với các DN thực hiện dự án tăng sản lượng sản xuất, mở rộng quy mô hoạt động (đặc biệt là các DN có vốn đầu tư nước ngoài), nhưng không tiến hành đăng ký dự án đầu tư và vẫn áp dụng mức thuế suất cho dự án đầu tư ban đầu cho toàn bộ thu nhập chịu thuế, thì sẽ gặp rủi ro do mức thuế suất ưu đãi thuế từ phần dự án đầu tư mở rộng thường thấp hơn nhiều so với mức ưu đãi áp dụng cho dự án ban đầu. Kể từ năm 2009, DN đang hoạt động có dự án đầu tư mở rộng thì phần thu nhập từ dự án này sẽ không được hưởng ưu đãi thuế TNDN.

 

Đến những hiểu lầm các quy định về thuế

Một số DN thường gặp khó khăn trong việc xác định thuế nhà thầu nước ngoài (NTNN) khi ký hợp đồng cung cấp hàng hóa giao tại cửa khẩu kèm theo dịch vụ tại Việt Nam và cho rằng, phần giá trị hàng hóa giao tại cửa khẩu sẽ không thuộc đối tượng nộp thuế theo quy định và chỉ nộp thuế NTNN cho phần dịch vụ tại Việt Nam . Tuy nhiên, theo quy định tại Thông tư 134/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008, trong trường hợp này, phần cung cấp hàng hóa vẫn chịu thuế NTNN.

Công ty Việt Nam khi kê khai và nộp thuế hộ NTNN thường hay bỏ sót các khoản chi mà công ty Việt Nam trả thay cho nhà thầu, ví dụ như chi phí ăn ở hoặc chi phí đi lại của chuyên gia của nhà thầu tại Việt Nam. Ngoài ra, công ty Việt Nam có thể kê khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào phát sinh từ các khoản chi hộ này. Theo quy định, các khoản chi hộ phải được tính toàn bộ vào doanh thu tính thuế NTNN để xác định số thuế phải nộp.  

Một số DN cũng thường nhầm lẫn khi xuất hóa đơn GTGT 10% trong trường hợp nhận tiền bồi thường vi phạm hợp đồng kinh tế từ phía đối tác. Trên thực tế, hóa đơn GTGT chỉ dành cho trường hợp cung cấp, trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Do đó, DN không phải xuất hóa đơn khi thu tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, đồng thời thuế GTGT đầu vào của những hóa đơn này cũng sẽ không được khấu trừ.

Đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN), nhầm lẫn phổ biến thường xảy ra khi tiền lương được xác định trên cơ sở thu nhập sau thuế (thu nhập NET hay người sử dụng lao động chịu thuế TNCN) và người sử dụng lao động đồng thời cung cấp thêm một số khoản trợ cấp bằng tiền và các phúc lợi bằng hiện vật cho người lao động. Trong trường hợp này, chỉ các khoản trợ cấp bằng tiền được cộng gộp vào thu nhập sau thuế để quy đổi ra thu nhập chịu thuế và sau đó cộng với các khoản phúc lợi nhằm xác định thuế TNCN.

 

Cùng một số khác biệt giữa thuế và kế toán

Một DN hoạt động cung ứng dịch vụ có hợp đồng với thời gian thực hiện kéo dài qua nhiều kỳ kế toán, nếu chỉ căn cứ trên lợi nhuận kế toán để kê khai thuế TNDN thì có thể dẫn đến tình trạng kê khai không chính xác số thuế phải nộp. Doanh thu kế toán sẽ được xác định theo các phương pháp cụ thể tại chuẩn mực kế toán, trong khi doanh thu tính thuế như quy định tại Thông tư 130 là thời điểm hoàn thành cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm xuất hóa đơn, tùy thời điểm nào xảy ra sớm hơn. Trong trường hợp này, DN cần phải điều chỉnh sự khác biệt giữa doanh thu tính thuế và doanh thu kế toán trong tờ khai quyết toán thuế TNDN.

Khác biệt giữa thuế và kế toán cũng xuất hiện trong trường hợp đánh giá lại chênh lệch tỷ giá cuối năm của các tài khoản tài sản có nguồn gốc ngoại tệ. Trong khi kế toán cho phép lãi (lỗ) từ việc đánh giá lại chênh lệch tỷ giá hối đoái này được hạch toán vào doanh thu (chi phí) trong kỳ, thì theo quy định về thuế, khoản lãi (lỗ) này không được coi là doanh thu chịu thuế (chi phí được khấu trừ).

Ngoài ra, đối với chi phí khấu hao tài sản cố định và trích lập các khoản dự phòng cũng thường có sự khác biệt giữa quy định của thuế và kế toán, đặc biệt là khi các DN có chính sách tính khấu hao và trích lập dự phòng riêng (đặc biệt là các DN có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng theo quy định của tập đoàn mẹ), nhưng khác với các quy định về thuế.

 

Và cách tiếp cận các thay đổi, cập nhật về thuế

Một DN khi hoạt động sản xuất - kinh doanh sẽ gặp rất nhiều tình huống thực tế, trong khi các quy định tại luật thuế cùng nghị định và thông tư hướng dẫn chỉ giới hạn ở một số trường hợp nhất định. Các tình huống khác không được quy định thường được Bộ Tài chính và cơ quan thuế hướng dẫn cho từng trường hợp cụ thể dưới dạng công văn.

Đơn cử như khi quyết toán thuế TNDN và thuế TNCN năm 2009 và năm 2010, có rất nhiều công văn hướng dẫn cách xử lý về thuế, các nội dung quyết toán mà luật, nghị định và thông tư không quy định rõ như Công văn số 353/TCT-CS, 7250/TCT-CS cho kỳ quyết toán thuế TNDN năm 2009 và Công văn số 518/TCT-CS cho kỳ quyết toán thuế TNDN năm 2010. Khi DN trả lương NET cho người lao động, cách quy đổi cũng chưa được quy định rõ tại Thông tư 84, mà chỉ được hướng dẫn chi tiết tại Công văn số 1758/TCT-TNCN và Công văn số 3565/TCT-TNCN.

Các vướng mắc thường chỉ được giải đáp khi sự đã rồi

Khi DN gặp các vướng mắc về thuế, giải pháp đầu tiên được áp dụng là gọi điện trao đổi với các cán bộ quản lý thuế để xin ý kiến. Giải pháp tiếp theo là gửi công văn lên cơ quan thuế xin hướng dẫn, giải đáp. Quá trình trả lời bằng văn bản thường mất thời gian và chỉ hoàn tất khi sự đã rồi. Kinh nghiệm thực tiễn về thuế cho thấy, việc xử lý và khắc phục hệ lụy từ các tình huống xử lý sai về thuế thường tốn rất nhiều thời gian và công sức.

Hiện rất ít DN hoạch định rõ ràng các rủi ro và vướng mắc về thuế cần sự giải đáp, hướng dẫn của cơ quan thuế ngay từ giai đoạn đầu. Cơ quan thuế cũng chưa có cơ chế thỏa thuận với DN về cách hiểu và áp dụng các quy định về thuế tại mỗi DN. Theo quan sát của chúng tôi, tại một số nước có nền kinh tế phát triển, một nhà đầu tư trước khi triển khai dự án thường thu xếp thống nhất với cơ quan thuế về các tình huống xử lý cụ thể bằng văn bản và khi triển khai thực hiện sẽ căn cứ vào các văn bản này.

 

Hy vọng vào những thay đổi sắp tới

Các văn bản quy phạm về thuế ngày càng được bổ sung, hoàn thiện theo hướng các vướng mắc hiện tại chưa được giải quyết hoặc đã được trả lời tại các công văn riêng rẽ sẽ được hệ thống hóa và quy định trong các thông tư hoặc văn bản cao hơn. Dự kiến, trong năm 2012 sẽ có các sửa đổi về thuế TNDN, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt và công tác quản lý thuế. Riêng đối với vấn đề chuyển giá, Nhà nước cũng đang xem xét xây dựng cơ chế Thỏa thuận trước về giá ("Advance Pricing Arrangement"), là thỏa thuận giữa cơ quan thuế và DN về phương pháp xác định giá tính thuế trước khi diễn ra giao dịch với các bên liên kết.

Hy vọng rằng, những thay đổi tích cực này sẽ góp phần giúp các DN hiểu và áp dụng chính xác hơn các quy định về thuế, đảm bảo môi trường pháp lý trong lĩnh vực này ổn định hơn.