Cắt giảm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện: Trả lời được câu hỏi giảm bao nhiêu thời gian, chi phí tuân thủ

0:00 / 0:00
0:00
Tư duy hiệu quả đang đặt cuộc cải cách ngành, nghề kinh doanh có điều kiện vào đà chạy mới, thay vì quán tính, thói quen như cách làm lâu nay.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu các bộ, ngành trình Chính phủ thông qua các phương án cắt giảm, cải cách thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong tháng 4. Trong ảnh: Kinh doanh khí là 1 trong 198 ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu các bộ, ngành trình Chính phủ thông qua các phương án cắt giảm, cải cách thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong tháng 4. Trong ảnh: Kinh doanh khí là 1 trong 198 ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư

Khi các Dự thảo còn quá nhiều câu hỏi...

Cuối tuần trước, trong một văn bản gửi Bộ Công thương góp ý cho Dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định kinh doanh xăng dầu (Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phải đề nghị bộ này tuân thủ Nghị định 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính.

Cụ thể, Điều 9.1, Dự thảo quy định việc thay đổi mục đích sử dụng nguyên liệu phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Công thương. Theo VCCI, quy định này về bản chất là một thủ tục hành chính, nhưng Dự thảo lại chưa có quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ; cũng chưa có tiêu chí khi nào chấp thuận và khi nào không.

Không chỉ có điều trên khiến tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp cảm thấy lo lắng cho đối tượng thực thi là các doanh nghiệp. Gửi Bộ Công thương, VCCI cũng đề nghị làm rõ Điều 7.3 của Dự thảo, khi viết “Bộ Công thương xem xét đề nghị xuất khẩu xăng dầu, nguyên liệu trên cơ sở cân đối nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ trong nước”.

“Quy định này chưa rõ tiêu chí đồng ý hay từ chối. Không rõ trong trường hợp nào thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cho phép, chẳng hạn như khi nguồn cung tại thời điểm lớn hơn nhu cầu tiêu thụ trong nước? Hay có khả năng nhập nguồn cung thay thế cho lượng đăng ký xuất khẩu?…”, VCCI đặt ra hàng loạt câu hỏi.

Đáng nói là, đây không phải là những phát hiện có tính riêng lẻ. Trước đó, VCCI đã phải đề nghị Bộ Y tế cân nhắc không thêm các loại giấy tờ vào hồ sơ công bố sản phẩm mỹ phẩm, mà thực hiện đúng theo tinh thần Hiệp định Mỹ phẩm ASEAN khi góp ý cho Dự thảo Nghị định quy định về quản lý mỹ phẩm. Vì theo các doanh nghiệp, các loại giấy tờ chứng minh sản phẩm được quy định tại Dự thảo chưa phù hợp, nếu phải tuân thủ sẽ gây khó cho doanh nghiệp.

Ví dụ, Dự thảo yêu cầu có giấy tờ về tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm mỹ phẩm, nhưng lại chưa có hướng dẫn về nội dung này. Hay yêu cầu nộp bản chính hoặc bản sao có chứng thực, bản sao kèm xuất trình bản chính để đối chiếu Giấy chứng nhận Thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm (CGMP), Giấy chứng nhận ISO 22716 của cơ sở sản xuất... đang có sự không tương thích giữa quy định của Việt Nam và một số quốc gia về cấp và xác minh các chứng nhận. Việc bắt buộc nộp các loại giấy tờ trên sẽ gây ra sự chậm trễ và khó khăn cho doanh nghiệp, từ đó chậm trễ đưa sản phẩm ra thị trường.

Hơn thế, gửi ý kiến tới VCCI, các doanh nghiệp cho biết, các nước trong khu vực chỉ yêu cầu nộp các giấy tờ đơn giản như Giấy Ủy quyền, thành phần công thức sản phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm hoặc chỉ nộp một trong các giấy tờ như CFS, ISO 22716, CGMP...

Con đường cắt giảm điều kiện kinh doanh vẫn gập ghềnh

Hậu quả của những quy định không rõ ràng, không hợp lý trong các văn bản pháp luật sẽ là các cách hiểu khác nhau giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, Phó tổng thư ký VCCI Đậu Anh Tuấn khẳng định. Đương nhiên, trong mối quan hệ này, doanh nghiệp luôn là phía phải gánh nặng hơn, ở cả góc độ chi phí và rủi ro trong tuân thủ.

TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, một trong những chuyên gia hàng đầu về cải cách môi trường kinh doanh của Việt Nam, gọi các ví dụ trên là minh chứng sống động nhất của những thách thức trong việc gỡ bỏ rào cản thể chế theo tư duy chuyển quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm mà Đảng và Chính phủ đang xác định là nhiệm vụ trọng tâm.

“Đây không đơn thuần là thay đổi một vài quy định, mà là thay đổi cách quản lý, từ công cụ, tổ chức đến năng lực thực thi. Nói cách khác, đó là thay đổi cả hệ thống”, ông Cung phân tích.

Cũng phải nhắc lại, cải cách các quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh tương ứng được khởi đầu từ Luật Doanh nghiệp 1999 với một thay đổi căn bản trong cách tiếp cận xây dựng luật pháp. Lần đầu tiên, Luật Doanh nghiệp đã chia ngành, nghề kinh doanh thành ba loại, gồm ngành, nghề tự do kinh doanh; ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ngành, nghề cấm kinh doanh. Nguyên tắc áp dụng là “doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm”. Nhờ đó, hàng ngàn loại giấy phép tự động bị bãi bỏ vào đầu năm 2000.

Nhưng thực tế cho thấy, các quy định về điều kiện kinh doanh là di sản của tư duy quản lý của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, nơi khu trú của cơ chế xin - cho và lợi ích nhóm. Vì vậy, ông Cung nhớ lại, việc cải cách trong lĩnh vực này thực sự khó khăn, vấp phải sự chống đối không hề nhỏ, dưới nhiều hình thức khác nhau từ các bộ, ngành và các tổ chức, cá nhân có lợi ích liên quan.

Năm 2014, cải cách ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh có bước tiến dài khi lần đầu tiên danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được ban hành kèm theo Luật Đầu tư, xác định rõ chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền thay đổi danh mục đó; chỉ có Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ có thẩm quyền ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh tương ứng.

Một lần nữa, hàng ngàn ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh đương nhiên hết hiệu lực. Đến cuối năm 2018, đã có khoảng 1/3 trong số 4.300 điều kiện kinh doanh (ghi nhận vào lần rà soát năm 2015) được bãi bỏ, đơngiản hóa.

Cũng từ thời điểm này, cắt giảm điều kiện kinh doanh trở thành nhiệm vụ thường xuyên, được xác định rất cụ thể trong Nghị quyết 19, sau đó là Nghị quyết 02 - các nghị quyết hàng năm về các nhiệm vụ cải cách môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nhưng đến giờ, theo báo cáo của Chính phủ, số lượng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đang là 198 ngành, số điều kiện kinh doanh là 4.600. Việc bổ sung không ít ngành, nghề vào Danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cũng như nhiều quy định về điều kiện kinh doanh còn mang tính chủ quan của quản lý ngành, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn.

Điểm bắt đầu của cuộc cải cách mới

Cũng vào cuối tuần trước, Bộ Tài chính đã gửi các bộ, ngành danh sách các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ tiêu cụ thể cần cắt giảm cho từng bộ, ngành. Tỷ lệ này ở mức tối thiểu, 30% số lượng ngành, nghề thuộc phạm vi do bộ, ngành quản lý.

Phương pháp cũng được yêu cầu rất chi tiết, gồm ghi rõ tên các ngành, nghề cắt giảm, giải trình lý do và dự kiến phương án quản lý thay thế. Các bộ, ngành sẽ phải chủ động nghiên cứu các biện pháp quản lý phù hợp, ví dụ như thông qua hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc ứng dụng công nghệ thông tin...

Đặc biệt, thời gian rất gấp. Các bộ, ngành phải hoàn tất phương án trước ngày 20/4 và Bộ Tài chính trong vai trò được giao là chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan liên quan sẽ phải báo cáo các Phó thủ tướng Chính phủ được phân công phụ trách các bộ trước ngày 25/4, để kịp trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngay trong tháng 4 này.

“Đúng là quá gấp, song tôi kỳ vọng đây là thời điểm đầu cho cuộc cải cách toàn diện thực sự về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, đúng như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ đạo”, TS. Cung kỳ vọng.

Trong cuộc họp của Thường trực Chính phủ về giải pháp, cách thức thực hiện cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cắt giảm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, phân cấp giải quyết thủ tục hành chính, diễn ra một ngày trước khi Bộ Tài chính gửi công văn trên tới các bộ, ngành, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ đạo các bộ trưởng phải trực tiếp chỉ đạo rà soát kỹ lưỡng các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của bộ để đơn giản hóa, cắt giảm và phân cấp giải quyết; đồng thời cắt giảm danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh hiện nay, để người dân, doanh nghiệp dễ hiểu, dễ làm, dễ thực hiện.

“Những điều kiện kinh doanh không cần thiết thì đương nhiên phải cắt giảm, nhưng những điều kiện kinh doanh khác cũng phải rà soát. Mặt khác, số lượng là quan trọng, nhưng bản chất, nội hàm bên trong các điều kiện còn quan trọng hơn; phải thực sự cắt giảm được thời gian và chi phí tuân thủ. Có thể số lượng cắt giảm không nhiều, nhưng lại mang lại hiệu quả lớn”, Thủ tướng Lê Minh Hưng chỉ đạo.

Hơn thế, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tư pháp phối hợp với Văn phòng Chính phủ thực hiện tốt nhiệm vụ "gác cửa", kiểm soát thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm nếu để lọt các thủ tục, điều kiện kinh doanh không đáp ứng yêu cầu. Thủ tướng cũng yêu cầu rất rõ là trong quá trình cắt giảm, đơn giản hóa, cần chú ý lắng nghe, nghiên cứu kỹ lưỡng, tiếp thu các kiến nghị, đề xuất của doanh nghiệp, hiệp hội.

Với bài toán hiệu quả mà Thủ tướng đặt yêu cầu, nhiệm vụ sẽ không dừng lại ở các phương án sẽ trình trong nay mai. Các doanh nghiệp đặc biệt chờ đợi vào đợt tổng rà soát thực chất tất cả các loại giấy phép, điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính còn tồn tại, trong đó đánh giá từng loại xem có thực sự cần thiết không, có thể thay thế bằng hậu kiểm không và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp là bao nhiêu.

“Đề nghị nghiên cứu áp dụng nguyên tắc “one-in, one-out” - mỗi điều kiện kinh doanh mới phải đi kèm bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ tương đương về gánh nặng tuân thủ - theo mô hình đã được Anh, Đức, Hàn Quốc áp dụng thành công”, ông Đậu Anh Tuấn kiến nghị.

Song song với đó, năng lực hậu kiểm dựa trên rủi ro, tập trung thanh tra vào lĩnh vực và doanh nghiệp có rủi ro cao, thay vì thanh tra đại trà, ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ phân loại rủi ro cũng được đề xuất.

Cuộc cải cách toàn diện quy định về điều kiện kinh doanh đang cần cách làm khác, với phương pháp luận khoa học, thống nhất theo tư duy hậu kiểm, thay vì cách làm theo quán tính, thói quen lâu nay.

Nhưng trước hết, cộng đồng kinh doanh đang chờ đợi những phương án với tên ngành, nghề cùng các văn bản, quy định sẽ bãi bỏ rất cụ thể, chi tiết...

Tin bài liên quan