Bà Phí Hương Nga, Trưởng ban Ban Thống kê công nghiệp và xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính)
Con số 34,65 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài trong nửa đầu năm 2026, tăng tới 61% so với cùng kỳ năm 2025 là quá ấn tượng, thưa bà?
Có lẽ, cần phải nhìn xa hơn để thấy rõ bức tranh về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nếu 6 tháng đầu năm 2023, Việt Nam chỉ thu hút được 13,43 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, thì cùng kỳ các năm sau, con số đã tăng rất nhanh, lên 16,23 tỷ USD và 21,52 tỷ USD vào 2 năm sau đó, 6 tháng đầu năm nay lên đến 34,65 tỷ USD.
Trong đó, nguồn vốn FDI chiếm phần lớn, cả vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm đều tăng rất mạnh trong 4 năm qua. Cụ thể, nếu năm 2023, trong 6 tháng đầu năm, chúng ta thu hút được 2,93 tỷ USD vốn FDI tăng thêm, thì năm 2024 và 2025 lên 4,06 tỷ USD và 8,95 tỷ USD và nửa đầu năm nay là 11,04 tỷ USD.
Nếu vốn đăng ký, kể cả đăng ký mới và tăng thêm chỉ là sự cam kết ban đầu, là niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài, hoàn toàn có thể thay đổi, thì vốn đầu tư thực hiện mới phản ánh dòng vốn thực. Lấy điểm mốc là năm 2022 - thời điểm thế giới bước ra khỏi đại dịch Covid-19, trong nửa đầu năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt 231.600 tỷ đồng, thì đã bắt đầu tăng trở lại vào cùng kỳ năm 2023 và 6 tháng đầu năm nay đạt trên 326.000 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Vốn FDI giải ngân nửa đầu năm chiếm trên 18% tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã cho thấy, nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam trong quá khứ và tiếp tục là nguồn lực quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn nhất quán, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường.
Như vậy, nguồn FDI không chỉ tăng về lượng, mà đã và đang nâng dần về chất?
Nếu trước đây, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo luôn dẫn đầu về thu hút nguồn vốn này (thường chiếm khoảng 62-65% tổng nguồn vốn đăng ký mới) và vị trí á quân thường là bất động sản, thì hiện nay, vị trí thứ hai trong thu hút FDI đã thuộc về sản xuất, phân phối điện, khí đốt với tỷ trọng ngày càng tăng.
Ngay trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, nguồn vốn FDI đã và đang chuyển hướng từ những ngành thâm dụng lao động, đặc biệt là may mặc và da giày, thì đang chuyển dần sang những ngành đòi hỏi công nghệ cao, điện tử, bán dẫn có hàm lượng trí tuệ cao, giá trị gia tăng sản xuất tại Việt Nam cao hơn. Sự chuyển dịch này sẽ giúp Việt Nam dần bước ra khỏi vai trò làm thuê, gia công, đóng gói, kiểm thử để dần bước chân vào chuỗi sản xuất toàn cầu với vị trí cao hơn.
Không phủ nhận vai trò của FDI trong lĩnh vực bất động sản, nhưng việc FDI dần tập trung vào sản xuất, phân phối điện, khí đốt là tín hiệu tích cực, bởi FDI sẽ hỗ trợ tích cực chúng ta dần thay thế năng lượng truyền thống gây ô nhiễm môi trường, phụ thuộc vào thời tiết và thị trường nhiên liệu nước ngoài sang năng lượng xanh - sạch, tái tạo. Đây là cơ sở thiết yếu để hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu đòi hỏi ngày càng cao hơn về bảo vệ môi trường, giảm phát thải nhà kính và tiến tới Net Zero vào năm 2050.
Sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết 50-NQ/TW, việc ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW cho thấy sự thay đổi nào trong tư duy thu hút FDI, thưa bà?
Năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 50-NQ/TW để định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Qua 7 năm thực hiện, có thể nói, chúng ta đã đạt được nhiều mục tiêu đặt ra. Tuy nhiên, công nghệ, đặc biệt là sự ra đời của trí tuệ nhân tạo (AI) đã khiến thế giới thay đổi quá nhanh, nên cần phải có quyết sách mới, chính sách mới, mục tiêu mới, giải pháp mới trong rất nhiều lĩnh vực, từ quản lý nhà nước đến quản trị xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, ngoại giao, hội nhập quốc tế...
Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết mới thay thế, bổ sung các chính sách đã ban hành trước đây như Nghị quyết 66-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW, Nghị quyết 79-NQ/TW, Nghị quyết 80-NQ/TW và mới đây nhất là Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết 10-NQ/TW đánh dấu một bước chuyển chiến lược trong tư duy điều hành kinh tế vĩ mô. Đây không đơn thuần là bản cập nhật chính sách thu hút vốn, mà là sự tái định vị vai trò của khu vực FDI: chuyển từ việc “thu hút nguồn lực bên ngoài” sang “sử dụng nguồn lực bên ngoài để kiến tạo năng lực nội sinh quốc gia”.
Những điểm nổi bật của Nghị quyết 10-NQ/TW so với Nghị quyết 50-NQ/TW là gì?
Theo tôi, có 5 điểm mới nổi bật.
Thứ nhất là đổi mới căn bản về tư duy thu hút đầu tư. Nghị quyết 10-NQ/TW đánh dấu sự chuyển hướng cốt lõi từ tư duy chủ yếu “thu hút vốn” sang tư duy “phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia”. Việc thu hút đầu tư sẽ không còn giới hạn theo địa giới hành chính, mà tập trung theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chính sách ưu đãi được chuyển đổi từ ưu đãi truyền thống theo đầu vào sang cơ chế hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết (hậu kiểm), khác với phương thức ưu đãi dàn trải trước đây.
Thứ hai là đặt ra các mục tiêu tham vọng và cụ thể hơn đến năm 2030. Về chất lượng dòng vốn và đối tác chiến lược, Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu cụ thể là 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển; tăng 30% số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500; thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam. Về tỷ lệ nội địa hóa, mục tiêu tại Nghị quyết 10-NQ/TW là đạt 45-50% vào năm 2030, cao hơn rõ rệt so với mục tiêu 40% của Nghị quyết 50-NQ/TW.
Thứ ba là chỉ đích danh các ngành công nghệ tương lai và kinh tế xanh. Trong khi Nghị quyết 50-NQ/TW chỉ ưu tiên chung chung các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, thì Nghị quyết 10-NQ/TW nêu đích danh các lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên như chip bán dẫn, AI, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, blockchain, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu tiên tiến. Ngoài ra, yếu tố bền vững được đặt lên hàng đầu thông qua việc thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Thứ tư là phát triển hệ sinh thái và thí điểm các thể chế vượt trội. Chính sách mới nhấn mạnh việc phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước. Đáng chú ý, văn bản mới chủ trương thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại các trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các mô hình đổi mới sáng tạo để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới.
Thứ năm là chú trọng mạnh mẽ vào dòng vốn đầu tư gián tiếp. Nghị quyết 10-NQ/TW dành riêng một nhóm giải pháp để hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài. Trọng tâm là phát triển thị trường vốn trung và dài hạn, khẩn trương đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khuyến khích dòng vốn từ các quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư tăng trưởng. Trong khi đó, Nghị quyết 50-NQ/TW chủ yếu chỉ đề cập việc phân định ranh giới quản lý hay hình thức mua lại và sáp nhập (M&A).
Mục tiêu đặt ra có thể nói là rất tham vọng. Thưa bà, dựa vào lợi thế nào để thực hiện được tham vọng này?
Nghị quyết 10-NQ/TW đánh giá, chất lượng thu hút đầu tư thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước. Có thể thấy, Việt Nam đang có nhiều lợi thế nội tại và nền tảng chính sách vững chắc để đón nhận dòng vốn này. Cụ thể là nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định. Xuyên suốt quá trình phát triển, Việt Nam duy trì được sự ổn định tuyệt đối về chính trị, an ninh quốc phòng và các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây là “bảo chứng an toàn” quan trọng nhất để các tập đoàn đa quốc gia yên tâm rót nguồn vốn quy mô lớn, dài hạn.
Lợi thế nữa là đà tăng trưởng kinh tế tích cực. Không chỉ định vị là một trung tâm sản xuất, Việt Nam, với quy mô dân số lớn và mức sống ngày càng nâng cao, đang trở thành một thị trường tiêu thụ nội địa đầy tiềm năng. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao liên tục đã tạo ra sức cầu mạnh mẽ, gia tăng sức hấp dẫn đối với dòng vốn FDI.
Hội nhập quốc tế sâu rộng cũng là lợi thế rất lớn của Việt Nam trong thu hút FDI. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng trong hội nhập kinh tế. Việc tham gia hàng loạt FTA thế hệ mới giúp mở rộng không gian kinh tế, biến đất nước thành mắt xích kết nối trực tiếp với chuỗi cung ứng và thị trường toàn cầu.