Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng trong năm 2025, bằng khoảng 32,3% GDP; tính chung 5 năm 2021-2025 ước đạt trên 17,3 triệu tỷ đồng. Ảnh: Lê Toàn. Đồ họa: Đan Nguyễn
Động lực từ FDI và đầu tư công
Nền kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng 8,02% trong năm 2025 và bức tranh tăng trưởng GRDP của các địa phương cũng khá tích cực. Theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), phần lớn các địa phương đạt tốc độ tăng trưởng trên 7%.
“Tăng trưởng GRDP của các địa phương nhìn chung vận động theo xu hướng chung của nền kinh tế, tiếp tục phục hồi và mở rộng”, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê nhận xét.
Song sự phục hồi và mở rộng này là không đồng đều. Vẫn còn một số nơi như Vĩnh Long, Thái Nguyên chỉ đạt mức tăng trưởng dưới 6,5% trong khi các địa phương động lực đều đạt tốc độ tăng trưởng cao. Trong đó, nổi bật là Quảng Ninh, với tốc độ tăng trưởng 11,89%, đạt ngôi quán quân.
Đứng thứ hai là TP. Hải Phòng, tăng trưởng 11,81%. Tiếp theo là Ninh Bình (10,65%); Phú Thọ (10,52%); Bắc Ninh (10,27%) và Quảng Ngãi (10,02%). Việc các địa phương này đạt tốc độ tăng trưởng GRDP cao, theo Cục Thống kê, một phần quan trọng là nhờ khả năng hấp thụ vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự bứt phá của các tổ hợp công nghiệp, dịch vụ hiện đại.
“Việc phát huy nội lực gắn với thu hút và sử dụng hiệu quả các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI đã tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng GRDP đạt mức cao”, bà Hương cho biết và nhấn mạnh rằng, những đột phá trong giải ngân vốn đầu tư công và phát triển các lĩnh vực mới cũng được coi là động lực tăng trưởng quan trọng của các địa phương.
Đây cũng là nguyên nhân để lý giải vì sao Quảng Ninh hay Hải Phòng tăng trưởng cao. Chẳng hạn, Quảng Ninh có Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Tổ hợp công nghiệp ô tô Thành Công Việt Hưng, có các dự án FDI trong các khu công nghiệp Đông Mai, Hải Hà… Trong khi đó, ở Hải Phòng, có Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải - nơi có các dự án quy mô lớn của VinFast, LG... Riêng dự án của LG có tổng quy mô hơn 10,65 tỷ USD, đóng góp lớn cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của Hải Phòng và cả nước.
Còn Bắc Ninh, sau khi sáp nhập với Bắc Giang đã trở thành thủ phủ của những dự án FDI hàng đầu như Tổ hợp Samsung, các dự án điện tử của Canon, Foxconn, Luxshare, Amkor, HanaMicron…, nhờ đó có được năng lực sản xuất vượt trội.
Sự kết hợp mạnh mẽ giữa giải ngân vốn FDI và đầu tư công cũng đã góp phần quyết định đưa Phú Thọ tăng tốc phát triển. Theo chia sẻ của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ, ông Trần Duy Đông, tăng trưởng sản xuất công nghiệp (15,4%) chính là động lực then chốt để Phú Thọ có được tốc độ tăng trưởng GRDP 10,52% trong năm 2025. Cũng trong năm này, Phú Thọ đã thu hút được 1,6 tỷ USD vốn FDI và hơn 160.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước; giải ngân vốn đầu tư công thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Và tất cả đã “kích hoạt” cho sự tăng trưởng cao của Phú Thọ.
Tương tự, năm 2025, Hải Phòng đã giải ngân được 38.000 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 108% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đặc biệt, vốn đầu tư toàn xã hội cũng đã đạt 321.000 tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra và tăng 15,6% so với năm 2024.
“Năm 2025, chúng tôi giải ngân được 89.300 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 106% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; đồng thời thu hút được 4,4 tỷ USD vốn FDI; khởi công được nhiều dự án quy mô lớn; thành lập mới được 32.000 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 420.000 tỷ đồng”, ông Nguyễn Xuân Lưu, Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội cho biết. Và đây chính là một trong những động lực quan trọng để kinh tế Thủ đô phục hồi mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng 8,16% trong năm 2025, vượt mục tiêu đề ra.
![]() |
Để tăng trưởng kinh tế đạt 10%, nhu cầu đầu tư toàn xã hội sẽ khoảng 4,93 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 33-33,7% GDP. Ảnh: Đức Thanh |
Dấu ấn đầu tư trong bức tranh kinh tế năm 2025
Trong bức tranh kinh tế năm 2025, có thể nói, đầu tư là một dấu ấn nổi bật. Lần đầu tiên, đã có tới 3 đợt đồng loạt khởi công, khánh thành các dự án, trong đó có rất nhiều dự án lớn với tổng số 564 công trình, tổng mức đầu tư hơn 5,14 triệu tỷ đồng. Trong đó, các dự án do tư nhân cả trong và ngoài nước đầu tư là 3,84 triệu tỷ đồng (chiếm 74,6%), Nhà nước đầu tư khoảng 1,3 triệu tỷ đồng (chiếm 25,4%).
Một nguồn lực khổng lồ đã được huy động cho đầu tư phát triển. Năm 2025, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, bằng khoảng 32,3% GDP; tính chung 5 năm 2021-2025, ước đạt trên 17,3 triệu tỷ đồng, tăng 44,6% so với giai đoạn trước, trong đó đầu tư công đạt khoảng 3,4 triệu tỷ đồng, tăng gần 55%.
“Năm 2025, chúng ta đã dành khoảng 1,08 triệu tỷ đồng cho đầu tư phát triển, cao nhất kể từ trước tới nay”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng phát biểu tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành Tài chính.
Không chỉ đầu tư công đạt mức “nhất”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng cũng chia sẻ thông tin về nguồn lực FDI thu hút được trong năm 2025, với 38,4 tỷ USD vốn đăng ký và 27,62 tỷ USD vốn giải ngân - mức cao nhất trong giai đoạn 2021-2025.
“Chúng ta đã thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược, dự án quy mô lớn trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo… Điều này đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng bán dẫn, sản xuất công nghệ cao toàn cầu, mở ra cơ hội tăng cường thu hút FDI trong lĩnh vực công nghệ cao giai đoạn tới”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng nói.
Và không chỉ là đầu tư nước ngoài, đầu tư tư nhân trong nước cũng diễn biến tích cực. Năm 2025 đã ghi nhận gần 297.500 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, một con số kỷ lục, tăng 27,4% so với năm 2024, với tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân bổ sung vào nền kinh tế ước đạt hơn 6,35 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024.
![]() |
Nguồn vốn đầu tư công cùng các chính sách hỗ trợ đã kích hoạt đầu tư ở cả khu vực công, FDI và tư nhân. Đồng thời, số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng vào khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87%. Dù con số chính thức chưa được công bố, nhưng theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), đến hết năm 2025, tăng trưởng tín dụng có thể đạt 19%.
Sự nới lỏng, linh hoạt của chính sách tiền tệ và tài khóa đã góp phần đưa một nguồn lực khủng vào nền kinh tế và đó là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng 8,02% trong năm 2025.
Khép lại câu chuyện của năm 2025. Bước sang năm 2026, Quốc hội đã quyết nghị mục tiêu tăng trưởng trên 10%. Đây cũng là mục tiêu cho cả giai đoạn 5 năm 2026-2030. Để đạt được mục tiêu này, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng đã nêu rõ: “Áp lực điều hành chính sách tài chính nhằm thúc đẩy vốn đầu tư xã hội đạt khoảng 40% GDP trong giai đoạn tới để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, là rất lớn”.
Huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Theo dự toán ngân sách nhà nước, chi đầu tư phát triển năm 2026 dự kiến đạt khoảng 1,12 triệu tỷ đồng, tương đương 35,5% tổng chi ngân sách và tăng 41,7% so với năm 2025. Mức chi cao kỷ lục này cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng nền tảng hạ tầng mang tính đột phá, tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế trung và dài hạn.
Nền tảng thu tích cực trong năm 2025 sẽ góp phần quan trọng để ngân sách có thể “thu chi có dư” và dành nguồn lực lớn cho đầu tư. Cụ thể, tính đến ngày 31/12/2025, thu ngân sách đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, vượt dự toán tới hơn 34,74% và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2024; trong khi vẫn miễn, hoãn giãn một nguồn lực lớn để tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt trên 10%, theo tính toán của Bộ Tài chính, nhu cầu đầu tư toàn xã hội sẽ lên tới 4,93 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 33-33,7% GDP. Nhu cầu này cao hơn đáng kể (khoảng 18,7%) so với mức 4,15 triệu tỷ đồng của năm 2025.
Điều này đặt ra áp lực rất lớn trong việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển mặc dù có những yếu tố thuận lợi như sự phục hồi của nền kinh tế và sự gia tăng niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng, thúc đẩy đầu tư tư nhân chưa được như kỳ vọng và việc xúc tiến các dự án FDI quy mô lớn còn gặp nhiều vướng mắc. Ông cũng nhấn mạnh, một điểm yếu hiện nay, đó là tăng trưởng kinh tế vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng; vai trò của thị trường chứng khoán trong huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp, nền kinh tế cần được phát huy hơn nữa.
Vấn đề này cũng được ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đề cập tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam mới đây. Theo ông Hiển, mục tiêu tăng trưởng 2 con số đã đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực tài chính rất lớn, song điều quan trọng hơn là phải đa dạng hóa kênh huy động và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.
Cùng quan điểm, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung cho rằng, cùng với chính sách tài khóa tiếp tục đóng vai trò kiến tạo tăng trưởng dài hạn, cần phát triển thị trường vốn trở thành trụ cột huy động nguồn lực trung và dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Bên cạnh đó, phải phát huy vai trò của khu vực doanh nghiệp trong huy động và sử dụng nguồn lực xã hội.
“Để đạt được tăng trưởng 2 con số, chúng ta cần nhìn nhận vốn tín dụng ngân hàng chỉ là một trong nhiều kênh quan trọng, chứ không thể là ‘trụ cột duy nhất’. Việc phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng có thể gây áp lực lên hệ thống ngân hàng, làm gia tăng rủi ro nợ xấu và lạm phát nếu dòng vốn không được sử dụng hiệu quả”, TS. Nguyễn Thị Giang, Phó trưởng khoa Lý luận chính trị, Học viện Ngân hàng chia sẻ ý kiến tương tự khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Theo bà Giang, về dài hạn, nền kinh tế cần đa dạng hóa các nguồn lực cho tăng trưởng, bao gồm phát triển thị trường vốn, đặc biệt là kênh trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu; thu hút mạnh hơn đầu tư tư nhân và vốn nước ngoài; mở rộng mô hình hợp tác công - tư (PPP); đồng thời khai thác tốt hơn nguồn lực trong dân cư.
“Bên cạnh đó, chất lượng tăng trưởng mới là yếu tố quyết định. Nếu chỉ dựa vào vốn mà thiếu cải cách thể chế, đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất lao động, thì tăng trưởng cao sẽ thiếu tính bền vững. Nói cách khác, huy động vốn phải đi cùng với cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, đó mới là nền tảng thực chất cho tăng trưởng 2 con số”, bà Giang bày tỏ.
Đi đôi với huy động là phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực cũng là điều được các chuyên gia nhấn mạnh lâu nay. Mà để nâng cao hiệu quả đầu tư công, theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, một trong những vấn đề quan trọng, là phải đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công.
Theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, nhiều nghiên cứu cho thấy, tốc độ và tính kịp thời của giải ngân có ý nghĩa không kém quy mô vốn đầu tư. “Giải ngân chậm không chỉ làm giảm hiệu quả kích cầu trong ngắn hạn, mà còn làm suy yếu khả năng chuyển hóa đầu tư công thành năng lực sản xuất mới trong trung hạn, đặc biệt khi các dự án hạ tầng lớn bị kéo dài tiến độ hoặc điều chỉnh thủ tục và tổng mức đầu tư nhiều lần”, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn bày tỏ.
Trong báo cáo về bức tranh tăng trưởng GRDP của các địa phương, Cục Thống kê sau khi phân tích độ chênh lệch trong tăng trưởng GDP của các địa phương và các vùng miền, cũng nhấn mạnh đến sự mất cân đối trong phân bổ nguồn lực và cơ hội phát triển và điều này có nguy cơ kéo dài khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng.
Theo Cục Thống kê, để thúc đẩy tăng trưởng, cần nâng cao hiệu quả đầu tư công, tạo lan tỏa phát triển vùng. Trong bối cảnh đầu tư tư nhân và FDI còn gặp khó khăn, đầu tư công tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng GRDP tại nhiều địa phương.
Cục Thống kê kiến nghị, cần sử dụng vốn đầu tư công theo hướng tập trung, trọng điểm, ưu tiên các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, logistics, đô thị, năng lượng và chuyển đổi số có tác động lan tỏa liên vùng; đồng thời đẩy nhanh giải ngân gắn với nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án, tăng cường kỷ luật quản lý. Việc kết hợp đầu tư công với huy động nguồn lực ngoài nhà nước, đặc biệt theo hình thức PPP, sẽ góp phần mở rộng dư địa và nâng cao hiệu quả.

