Không thể để doanh nghiệp nhỏ và vừa “tự bơi” trong tiếp cận vốn

0:00 / 0:00
0:00
Ông Phạm Xuân Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cho rằng, nếu tiếp tục chỉ dựa vào ngân hàng thương mại truyền thống sẽ rất khó giải quyết triệt để “cơn khát vốn” của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đặc biệt đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, sản xuất chế biến, đổi mới công nghệ, y tế tư nhân, logistics hay nông nghiệp công nghệ cao...
Ông Phạm Xuân Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam

Ông Phạm Xuân Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam

“Việt Nam cần sớm hình thành Quỹ bảo lãnh tín dụng quốc gia như một công cụ chia sẻ rủi ro với các tổ chức cho vay, qua đó thúc đẩy dòng vốn trung và dài hạn vào khu vực doanh nghiệp tư nhân”, ông Hòe đề xuất.

Tiếp cận vốn vẫn là nút thắt lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Có tới 75,5% doanh nghiệp cho biết, không thể vay vốn ngân hàng nếu không có tài sản bảo đảm và 54,2% cho rằng, việc vay vốn khi không có tài sản thế chấp là rất khó khăn. Đây là con số khảo sát mới nhất do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố cuối tuần trước tại Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025. Trong báo cáo này, VCCI nhận định rằng, tiếp cận vốn tiếp tục là một trong những rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp, với nhiều trở ngại mang tính cấu trúc hơn là ngắn hạn.

Thưa ông, nhận định ra sao những con số nêu trên?

Tôi từng khảo sát một doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại khu vực Hà Nội - Hà Nam. Doanh nghiệp cho biết, muốn tham gia chuỗi cung ứng của Samsung thì phải đầu tư dây chuyền sản xuất khoảng 300 tỷ đồng. Nếu vay ngân hàng thương mại, doanh nghiệp phải có tối thiểu 30% vốn đối ứng, tương đương khoảng 90 tỷ đồng. Với nhiều SMEs Việt Nam, đây gần như là điều không tưởng.

Nếu chỉ tiếp cận được vốn ngắn hạn, SMEs rất khó đầu tư bài bản để nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong khi đó, phải tiếp tục nhấn mạnh, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chiếm khoảng 97-98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, hơn 30% thu ngân sách và tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội. Nhưng đây cũng là khu vực gặp nhiều khó khăn nhất trong tiếp cận tín dụng chính thức.

Đúng như khảo sát của VCCI, rào cản lớn nhất là thiếu tài sản bảo đảm. Ngoài ra, SMEs còn hạn chế về minh bạch tài chính, quy mô nhỏ nên chi phí thẩm định cao, trong khi mức độ rủi ro lại lớn hơn doanh nghiệp quy mô lớn.

Trong khi đó, nhu cầu vốn của nhóm doanh nghiệp này chủ yếu là vốn trung và dài hạn để đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ, xây dựng nhà xưởng, chuyển đổi số hoặc đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị).

Còn cấu trúc cung ứng vốn hiện nay của Việt Nam thì sao?

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại. Đây là mô hình “bank-based”, tức phần lớn dòng vốn cho nền kinh tế đi qua ngân hàng.

Tuy nhiên, bản chất nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động ngắn hạn, nên việc cho vay trung và dài hạn luôn đối mặt với áp lực kỳ hạn, rủi ro thanh khoản và các giới hạn an toàn hệ thống.

Nếu tiếp tục chỉ dựa vào ngân hàng thương mại truyền thống, sẽ rất khó giải quyết triệt để “cơn khát vốn” của SMEs, đặc biệt trong các lĩnh vực cần đầu tư dài hạn như công nghiệp hỗ trợ, chế biến chế tạo, logistics, y tế tư nhân hay nông nghiệp công nghệ cao.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nền kinh tế thành công như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đức đều phát triển mạnh hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi cùng với hệ thống bảo lãnh tín dụng quốc gia.

Đây chính là cấu phần còn thiếu của thị trường tài chính Việt Nam.

Quỹ bảo lãnh tín dụng quốc gia sẽ là lá chắn chia sẻ rủi ro

Ông nhiều lần nhấn mạnh vai trò của Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia. Tuy vậy, thực tế không thể né tránh là hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương chưa thực sự hiệu quả?

Nếu các tổ chức tín dụng là “kênh dẫn vốn”, thì Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia sẽ là “lá chắn chia sẻ rủi ro” giữa Nhà nước, doanh nghiệp và bên cho vay.

Nhưng đúng là hiện tại, hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương gần như không đáng kể và chưa thực sự hỗ trợ được doanh nghiệp.

Nguyên nhân khiến các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương hoạt động kém hiệu quả xuất phát từ nhiều phía.

Trước hết, quy mô vốn của các quỹ còn quá nhỏ, hoạt động phân tán, thiếu đội ngũ chuyên nghiệp về tín dụng và quản trị rủi ro.

Đến cuối năm 2022, cả nước chỉ còn khoảng 24 quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tổng vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống chỉ khoảng 1.625 tỷ đồng, tức bình quân mỗi quỹ chưa đạt mức 100 tỷ đồng theo yêu cầu.

Tính từ năm 2002 đến năm 2022, theo báo cáo của Bộ Tài chính, số doanh nghiệp được bảo lãnh bình quân chỉ khoảng hơn 120 doanh nghiệp mỗi năm. Điều đó cho thấy hiệu quả hỗ trợ còn khá hạn chế.

Bên cạnh đó, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, điều kiện bảo lãnh còn chặt chẽ, thủ tục phức tạp, trong khi tâm lý sợ trách nhiệm khiến nhiều quỹ e ngại triển khai bảo lãnh thực chất.

Về phía các tổ chức tín dụng, nhiều ngân hàng chưa thực sự mặn mà với cho vay qua cơ chế bảo lãnh do khoản vay nhỏ, chi phí thẩm định cao và cơ chế phối hợp chia sẻ rủi ro chưa rõ ràng.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng chưa hiểu rõ vai trò của quỹ bảo lãnh, ngại thủ tục, thiếu tài sản đối ứng nên khó tiếp cận.

Ngoài ra, vai trò kết nối của các hiệp hội doanh nghiệp thời gian qua còn khá mờ nhạt, chưa thực sự trở thành cầu nối hiệu quả giữa doanh nghiệp với các kênh tín dụng và bảo lãnh vốn.

Điều gì khiến ông tin rằng, Việt Nam vẫn cần mô hình Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia?

Chúng tôi đã nghiên cứu và nhận thấy, nhiều quốc gia thành công trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đều xây dựng hệ thống bảo lãnh tín dụng cấp quốc gia với quy mô lớn như KODIT của Hàn Quốc, hệ thống bảo lãnh tín dụng SMEs của Nhật Bản hay mô hình KfW của Đức.

Các mô hình này cho thấy, hoạt động của họ giải quyết được những vấn đề cốt lõi như: chia sẻ rủi ro với tổ chức cho vay; hỗ trợ SMEs thiếu tài sản bảo đảm; hạ chi phí vốn; kích thích đầu tư dài hạn; duy trì dòng vốn trong khủng hoảng.

Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, các chương trình bảo lãnh tín dụng quốc gia đã cứu hàng triệu doanh nghiệp khỏi phá sản.

Trở lại với nền kinh tế Việt Nam, theo tôi, có ít nhất 5 tác động lớn nếu chúng ta thiết lập mô hình này.

Thứ nhất, khắc phục tình trạng phân mảnh của các quỹ địa phương hiện nay, tạo ra cơ chế thống nhất về tiêu chuẩn và quản trị rủi ro.

Thứ hai, tạo cơ chế chia sẻ rủi ro thực chất để ngân hàng và các tổ chức tài chính mạnh dạn cho vay hơn.

Thứ ba, hỗ trợ triển khai các chính sách công nghiệp thông qua việc ưu tiên bảo lãnh cho những lĩnh vực chiến lược như công nghiệp hỗ trợ, bán dẫn, công nghệ cao, chuyển đổi số, nông nghiệp xanh hoặc y tế tư nhân.

Thứ tư, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước. Khác với cấp phát trực tiếp, bảo lãnh tín dụng tạo hiệu ứng đòn bẩy rất lớn.

Ví dụ, 1 đồng vốn bảo lãnh có thể kích hoạt 8-10 đồng tín dụng cho nền kinh tế. Điều này giúp Nhà nước hỗ trợ tăng trưởng hiệu quả hơn mà không phải giải ngân toàn bộ ngay từ đầu.

Thứ năm, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái tài chính đa tầng, kết nối ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, quỹ đầu tư, fintech và các định chế tài chính phát triển.

Tư duy chấp nhận chia sẻ rủi ro

Theo ông, đâu là điều quan trọng nhất nếu Việt Nam muốn xây dựng thành công Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia?

Điều quan trọng nhất là phải thay đổi tư duy quản lý.

Hoạt động bảo lãnh tín dụng về bản chất là hoạt động chia sẻ rủi ro. Nếu bảo lãnh hàng nghìn khoản vay thì chắc chắn sẽ có một tỷ lệ rủi ro nhất định. Do đó, cơ chế trích lập dự phòng rủi ro bù đắp hoặc được bảo hiểm tín dụng chi trả là đúng theo nguyên tắc thị trường, không cứng nhắc quy trách nhiệm cho lãnh đạo quỹ bảo lãnh.

Bên cạnh đó, quỹ phải được tổ chức theo mô hình chuyên nghiệp, có cơ chế quản trị độc lập và ứng dụng mạnh công nghệ số.

Trong đề xuất của tôi, Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia có quy mô vốn điều lệ ban đầu khoảng 20 nghìn tỷ đồng, sau đó tăng dần hằng năm bằng cơ chế để lại phần chênh lệch giữa thu và chi của quỹ, đồng thời bồi đắp qua nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Quỹ cần đổi mới căn bản hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, quản trị độc lập, liên thông dữ liệu thuế - hải quan - ngân hàng...

Bên cạnh đó, phải tiến lên một bước để áp dụng cơ chế bảo lãnh theo chuỗi. Không chỉ bảo lãnh từng doanh nghiệp riêng lẻ, cần bảo lãnh theo chuỗi cung ứng, theo cụm công nghiệp, theo hệ sinh thái sản xuất. Điều này giúp giảm rủi ro và tăng hiệu quả vốn.

Đặc biệt, đã đến lúc chúng ta cần xây dựng nền tảng dữ liệu SMEs quốc gia để chấm điểm tín dụng, đánh giá dòng tiền, theo dõi hóa đơn điện tử, định giá tài sản số hóa.

Đây sẽ là nền tảng quan trọng để chuyển dần sang mô hình cho vay dựa trên dữ liệu và dòng tiền thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp.

Ông có đề xuất gì để Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia thực sự phát huy hiệu quả?

Theo tôi, Việt Nam cần sớm xây dựng khung pháp lý ở cấp luật đối với hoạt động bảo lãnh tín dụng và bảo hiểm tín dụng.

Đồng thời, Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia cần có quy mô đủ lớn, hoạt động chuyên nghiệp và có sự tham gia phối hợp của ngân hàng, các định chế tài chính, hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức bảo hiểm tín dụng.

Một điểm rất quan trọng là phải giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện tiếp cận và triển khai cơ chế bảo lãnh theo chuỗi cung ứng thay vì chỉ bảo lãnh riêng lẻ từng doanh nghiệp.

Muốn doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn mạnh, không thể chỉ yêu cầu họ “tự bơi” trong môi trường tín dụng khắt khe.

Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua hệ thống bảo lãnh hiệu quả, cơ chế chia sẻ rủi ro hiện đại và các định chế tài chính dài hạn chuyên biệt.

Khi đó, SMEs mới có thể tiếp cận được dòng vốn cần thiết để đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất và trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế.

Muốn doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn mạnh, không thể chỉ yêu cầu họ ‘tự bơi’ trong môi trường tín dụng khắt khe. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro hiệu quả.

Tin bài liên quan