Nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực. Quý I/2026, GDP tăng khoảng 7,83%, thuộc nhóm cao nhất khu vực; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 250 tỷ USD và vốn FDI thực hiện tăng 9,1%.
Tuy nhiên, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới, áp lực về nguồn vốn đang ngày càng lớn. Việc nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng không chỉ tạo sức ép lên hệ thống tài chính, mà còn hạn chế khả năng mở rộng đầu tư của doanh nghiệp.
Áp lực từ sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng
Phát biểu tại Diễn đàn Tài chính 2026 với chủ đề “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh” do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức chiều 20/5, ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê và Ổn định tiền tệ - tài chính (NHNN), cho biết nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng.
Theo ông Lân, trong bối cảnh lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao, NHNN phải điều hành chính sách tiền tệ theo hướng “chủ động, linh hoạt và thận trọng” nhằm vừa kiểm soát lạm phát quanh mục tiêu 4,5% ± 0,5%, vừa ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Một trong những vấn đề đáng lưu ý hiện nay là tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức rất cao.
TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn (Đại học Fulbright) cho biết, đến tháng 4/2026, tỷ lệ này đã lên khoảng 145%, tương đương dư nợ gần 19,4 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Thế giới (World Bank) cũng nhiều lần cảnh báo về rủi ro khi nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
Trong khi đó, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn đang có xu hướng nới rộng, gây áp lực lên thanh khoản hệ thống. Các tổ chức tín dụng cũng đối mặt nguy cơ nợ xấu gia tăng khi chi phí vốn tăng lên, trong khi khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế.
Theo các chuyên gia, nhiều doanh nghiệp vẫn tồn tại tình trạng sử dụng vốn ngắn hạn cho các mục tiêu đầu tư dài hạn như mua sắm máy móc, tài sản cố định, làm gia tăng rủi ro mất cân đối dòng tiền.
Ngoài các yếu tố nội tại, môi trường quốc tế cũng tạo thêm sức ép cho nền kinh tế. Đồng USD mạnh lên, lãi suất quốc tế neo cao cùng biến động địa chính trị và giá năng lượng khiến áp lực tỷ giá và chi phí vốn tăng đáng kể. Trong khi đó, xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam vẫn chưa đạt mức đầu tư, khiến chi phí huy động vốn quốc tế còn cao.
Nhu cầu vốn lớn, cần thêm động lực từ thị trường vốn
Theo TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, để duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 10%/năm, Việt Nam cần lượng vốn đầu tư xã hội rất lớn. Nếu tính cả yếu tố lạm phát khoảng 4,5%, tổng nhu cầu vốn có thể lên tới 40 triệu tỷ đồng.
Riêng TP.HCM được ước tính cần huy động khoảng 1,18 triệu tỷ đồng trong năm 2026 để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn đang có xu hướng giảm, đồng nghĩa nền kinh tế phải bỏ ra nhiều vốn hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng phát triển thị trường vốn là giải pháp quan trọng nhằm giảm tải cho hệ thống ngân hàng và tạo nguồn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.
Kinh tế tư nhân được kỳ vọng sẽ đóng góp khoảng 60% tổng vốn đầu tư xã hội. Để đạt mục tiêu này, cần thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển sâu hơn, nâng quy mô phát hành cổ phiếu lên khoảng 2-3% GDP, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp huy động vốn qua trái phiếu, quỹ đầu tư và mô hình hợp tác công - tư (PPP).
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC), cho rằng, việc phát huy vai trò của các định chế như Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) thông qua phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh cũng là giải pháp cần thiết.
Theo ông Huân, VIFC-HCMC được kỳ vọng trở thành đầu mối thu hút dòng vốn quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn.
Trong lĩnh vực tài chính hàng hải, VIFC-HCMC đặt mục tiêu thu hút khoảng 30% giao dịch tài chính hàng hải của khu vực, tương đương khoảng 300 tỷ USD mỗi năm - dòng vốn hiện chủ yếu chảy qua Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc).
Ngoài ra, việc hợp tác với các sở giao dịch quốc tế như Nasdaq hay London Stock Exchange có thể mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam niêm yết và huy động vốn ở nước ngoài.
Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp, ông Huân cho biết, mô hình sàn giao dịch cộng đồng theo Nghị định 324/2025/NĐ-CP có thể hỗ trợ startup tiếp cận nguồn vốn lên tới 700.000 USD mỗi năm.
Minh bạch tài chính là điều kiện then chốt
Bên cạnh các giải pháp chính sách, các chuyên gia nhấn mạnh doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị và minh bạch tài chính để tăng khả năng tiếp cận vốn.
Theo ông Huân, doanh nghiệp cần chủ động cơ cấu lại dòng tiền, duy trì tỷ lệ đòn bẩy hợp lý và hạn chế các hoạt động đầu cơ rủi ro cao. Việc tận dụng mạng lưới liên kết của ngân hàng để thẩm định năng lực tài chính đối tác quốc tế cũng giúp giảm rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.
Về phía cơ quan quản lý, NHNN cho biết, sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Tại TP.HCM, nhiều cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 98 đang được triển khai như hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ và thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm quy mô 5.000 tỷ đồng.
Ngoài ra, cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ đầu tư, xây dựng cũng được xem là giải pháp quan trọng giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp.
Các chuyên gia cho rằng, khơi thông dòng vốn không thể chỉ dựa vào hệ thống ngân hàng mà cần một chiến lược tổng thể, từ phát triển thị trường vốn, hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình tài chính mới đến nâng cao tính minh bạch của doanh nghiệp. Chỉ khi các kênh dẫn vốn được đa dạng hóa và vận hành hiệu quả, nền kinh tế mới có thêm dư địa để tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới.
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch VIFC-HCMC cho biết, hệ sinh thái Trung tâm tài chính hàng hải quốc tế (IMFC) - một trong bốn trụ cột chiến lược của VIFC-HCMC chính thức ra mắt ngày 21/5.
Sàn giao dịch tài chính hàng hải này tập trung vào các dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu, tài chính số xuyên biên giới, bảo hiểm hàng hải và các giải pháp hỗ trợ logistics quốc tế...
“Mô hình này được tham khảo từ các trung tâm tài chính hàng hải lớn như Singapore nhưng điểm khác biệt là ứng dụng mạnh công nghệ số nhằm giảm chi phí, rút ngắn thời gian giao dịch và nâng cao tính minh bạch”, ông Huân nói.
Ngoài ra, sàn giao dịch cũng định hướng phát triển các dịch vụ bảo hiểm hàng hải, tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế và các nền tảng tài chính số nhằm kéo dòng tiền giao dịch quay trở lại Việt Nam, thay vì tiếp tục trung chuyển qua các trung tâm tài chính nước ngoài. Từ đó, đặt nền móng để TP. HCM vươn lên nhóm trung tâm hàng hải hàng đầu khu vực.