Kỳ vọng sớm đưa tiền hoàn thuế trở lại sản xuất

Kỳ vọng sớm đưa tiền hoàn thuế trở lại sản xuất

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Theo TS. Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, để hoàn thuế tự động thực sự trở thành đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, yêu cầu cấp thiết hiện nay là giảm thời gian giải quyết hồ sơ để đưa nguồn lực tài chính nhanh chóng trở lại sản xuất, kinh doanh.

Từ góc độ đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, ông đánh giá như thế nào về sự cần thiết của việc triển khai hoàn thuế giá trị gia tăng tự động, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp đang cần giảm chi phí và khơi thông dòng tiền?

Tôi cho rằng đây là cải cách cần thiết, gắn trực tiếp với quyền lợi hợp pháp và khả năng duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Khi đáp ứng đầy đủ điều kiện, doanh nghiệp có quyền nhận lại số thuế được hoàn. Bảo đảm quyền này được thực hiện kịp thời chính là giải phóng nguồn lực đang chậm trở lại sản xuất, kinh doanh.

Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đã quy định việc triển khai hoàn thuế tự động trên cơ sở dữ liệu và quản lý rủi ro. Việc Cục Thuế hoàn thiện quy trình rất có ý nghĩa, đưa cơ sở pháp lý, quy định trên thành lợi ích thực tế. Doanh nghiệp kỳ vọng giảm thời gian chuẩn bị, giải trình hồ sơ, giảm chi phí kế toán và hạn chế sự khác nhau trong cách xử lý giữa các địa phương.

Điểm cần thay đổi sâu hơn là phương thức quản lý: cơ quan thuế chủ động khai thác thông tin đã có để xác định quyền được hoàn và những nội dung thực sự cần kiểm tra. Nếu doanh nghiệp vẫn phải cung cấp lại dữ liệu, theo dõi và giải trình qua nhiều vòng, lợi ích của tự động hóa sẽ bị thu hẹp.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiết kiệm được thời gian của một nhân sự kế toán cũng có ý nghĩa. Cải cách vì vậy phải được đánh giá bằng chi phí thực tế giảm xuống và khả năng sử dụng lại vốn của doanh nghiệp.

Rút ngắn thời gian hoàn thuế giúp doanh nghiệp duy trì cùng một quy mô sản xuất với nhu cầu vốn vay thấp hơn

Rút ngắn thời gian hoàn thuế giúp doanh nghiệp duy trì cùng một quy mô sản xuất với nhu cầu vốn vay thấp hơn

Thực tế hoàn thuế chậm có thể tác động như thế nào đến dòng tiền, vốn lưu động và kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp? Theo ông, việc rút ngắn thời gian hoàn thuế có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp?

Hoàn thuế chậm làm kéo dài thời gian vốn bị giữ ngoài chu kỳ kinh doanh. Trong một số thời điểm doanh nghiệp có thể có doanh thu, có lợi nhuận trên sổ sách nhưng vẫn thiếu tiền mua nguyên liệu, trả lương hoặc thanh toán cho nhà cung cấp. Khi đó, họ phải vay bù, kéo dài công nợ hoặc thu hẹp sản xuất.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn còn ở chỗ không phải lúc nào cũng vay được khoản bù đắp ấy. Hạn mức tín dụng, tài sản bảo đảm và sức chịu đựng tài chính đều có giới hạn. Việc chậm thanh toán sau đó có thể lan sang các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cung ứng nguyên liệu, dịch vụ trong cùng chuỗi.

Rút ngắn thời gian hoàn thuế giúp doanh nghiệp duy trì cùng một quy mô sản xuất với nhu cầu vốn vay thấp hơn. Đồng thời, thời điểm nhận tiền đủ rõ ràng giúp họ chủ động ký hợp đồng và bố trí thanh toán. Doanh nghiệp cần cả tốc độ giải quyết lẫn khả năng dự tính dòng tiền; sự bất định kéo dài thường buộc doanh nghiệp giữ vốn dự phòng nhiều hơn, nhiều khi phải bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.

Quy trình hoàn thuế tự động dự kiến kết nối, đối chiếu dữ liệu và phân loại rủi ro thay vì xử lý thủ công. Theo ông, cách làm này cần được thiết kế như thế nào để vừa tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm kiểm soát gian lận?

Theo tôi, mức độ kiểm soát phải tương xứng với rủi ro và dựa trên chứng cứ. Doanh nghiệp tuân thủ tốt, hồ sơ đáp ứng điều kiện cần được hưởng quy trình nhanh; nguồn lực kiểm tra tập trung vào những giao dịch thực sự có dấu hiệu bất thường.

Hệ thống cần tận dụng dữ liệu hóa đơn, kê khai, hải quan và thanh toán được thu thập hợp pháp; hỗ trợ doanh nghiệp phát hiện sai lệch trước khi nộp hồ sơ. Việc đối chiếu phải xét đặc điểm giao dịch, thời điểm cập nhật và các trường hợp chứng từ được pháp luật cho phép. Dữ liệu chưa đồng bộ cần được tra soát, đặc biệt, chú trọng tránh việc mặc nhiên biến lỗi kỹ thuật thành nghi vấn gian lận.

Phân loại rủi ro cũng cần phân biệt sai sót có thể khắc phục với hành vi cố ý trục lợi. Cảnh báo là căn cứ để xem xét, xác minh; kết luận vi phạm phải có cơ sở pháp luật và chứng cứ tương ứng. Cần thường xuyên kiểm tra chất lượng phân loại, tránh để quy mô nhỏ hoặc năng lực số hạn chế trở thành bất lợi kéo dài cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp phải được biết, được hướng dẫn vấn đề cần giải trình, có quyền được bổ sung chứng cứ và yêu cầu rà soát khi dữ liệu sai. Điều kiện áp dụng, trình tự xử lý cần công khai; các chỉ báo nghiệp vụ cần bảo mật để chống gian lận vẫn được bảo vệ. Mọi bước xử lý phải có dấu vết rõ ràng, trách nhiệm rõ ràng, kể cả khi hệ thống vận hành tự động.

Việc kiểm tra sau hoàn thuế cần tập trung theo rủi ro, xử lý nghiêm hành vi gian lận đã được xác định, đồng thời tránh kiểm tra trùng lặp. Kiểm soát đúng trọng tâm sẽ bảo vệ ngân sách, tạo môi trường cạnh tranh công bằng và bảo vệ cho doanh nghiệp kinh doanh nghiêm túc.

Một trong những vướng mắc hiện nay là chỉ một số hóa đơn, hoặc giao dịch có dấu hiệu rủi ro có thể khiến toàn bộ hồ sơ hoàn thuế bị kéo dài. Theo ông, nên có cơ chế xử lý như thế nào để doanh nghiệp không bị “đóng băng” dòng tiền vì những rủi ro cục bộ?

Đây là vấn đề thường gặp, cũng là điều cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa đặc biệt quan tâm cần cấp bách có biện pháp xử lý kịp thời. Cần khoanh đúng phạm vi rủi ro và giải quyết riêng phần đủ điều kiện.

Với hồ sơ thuộc diện hoàn trước, nếu chỉ một phần số tiền được xác định có rủi ro, phần đó được chuyển sang kiểm tra trước hoàn; phần còn lại đủ điều kiện phải tiếp tục được xử lý đúng thời hạn. Cơ chế này đã được cụ thể tại Nghị định 252/2026/NĐ-CP, Thông tư 89/2026/TT-BTC và được Cục Thuế hướng dẫn tại Công văn 6936/CT-QLTT ngày 18/9/2026. Vấn đề hiện nay là tổ chức thực hiện thống nhất, rà soát cả hồ sơ tồn đọng, để quy định tiến bộ tạo ra chuyển biến thực tế.

Theo tôi, thông báo xử lý cần xác định rõ giao dịch, số tiền cần kiểm tra, nội dung phải giải trình và thời hạn giải quyết. Phần đã đủ điều kiện phải có tiến độ riêng, tránh tiếp tục chờ kết quả xác minh phần còn vướng. Nếu có căn cứ cho thấy rủi ro ảnh hưởng rộng hơn, cơ quan thuế xử lý theo phạm vi được xác định và quy định pháp luật, giải thích rõ cho doanh nghiệp.

Đặc biệt, cần phân định trách nhiệm của doanh nghiệp mua hàng với trách nhiệm quản lý người bán. Luật số 149/2025/QH15 đã bãi bỏ điều kiện hoàn thuế gắn với việc người bán kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với hóa đơn đã xuất. Doanh nghiệp mua hàng vẫn phải chứng minh giao dịch thực và đáp ứng các điều kiện hoàn thuế còn lại; nhưng không thể bị yêu cầu làm thay công việc xác minh nghĩa vụ thuế của toàn bộ chuỗi cung ứng. Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị cũng định hướng, nhìn vấn đề theo hướng những rủi ro thông thường của kinh doanh được nhìn nhận đúng bản chất.

Việc nhà cung cấp về sau ngừng hoạt động, hoặc bị cảnh báo cần được đánh giá trong mối liên hệ với giao dịch cụ thể. Chỉ riêng thông tin đó chưa đủ để quy kết doanh nghiệp mua hàng vi phạm. Cách xử lý phải bảo vệ được quyền lợi của bên giao dịch hợp pháp, đồng thời xác định và xử lý đúng chủ thể gian lận.

Để hoàn thuế tự động thực sự trở thành một giải pháp hỗ trợ tăng trưởng, theo ông cần tiếp tục hoàn thiện những gì về dữ liệu, quy trình và phối hợp giữa cơ quan thuế với doanh nghiệp, qua đó đưa nguồn tiền hoàn thuế nhanh hơn trở lại sản xuất, kinh doanh?

Trước hết, phải quy định rõ trách nhiệm về chất lượng và thời hạn cập nhật dữ liệu của từng cơ quan. Kết nối chỉ có giá trị khi thông tin đủ tin cậy, sai lệch có đầu mối sửa và kết quả tra soát được sử dụng thống nhất. Doanh nghiệp không nên phải đi nhiều nơi để xác nhận lại cùng một thông tin.

Quy trình cần được quản lý xuyên suốt đến khi tiền hoàn thực sự vào tài khoản doanh nghiệp. Mỗi khâu giữa cơ quan thuế, hải quan, kho bạc và ngân hàng cần có thời hạn phối hợp, cơ chế cảnh báo chậm và người chịu trách nhiệm. Những trường hợp vượt thẩm quyền phải được chuyển xử lý kịp thời, tránh kéo dài bằng các yêu cầu bổ sung lặp lại.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần cung cấp công cụ đối chiếu dễ dùng, hướng dẫn theo tình huống và hỗ trợ khắc phục sai sót từ đầu. Với hộ kinh doanh trong chuỗi cung ứng, yêu cầu hóa đơn, chứng từ phải phù hợp phương pháp tính thuế và nghĩa vụ thực tế; tránh đồng nhất mọi hộ kinh doanh với đối tượng được hoàn thuế đầu vào. Hiệp hội doanh nghiệp có thể tổng hợp vướng mắc theo nhóm, phối hợp cơ quan thuế giải đáp và theo dõi kết quả xử lý.

Tôi đề nghị đo hiệu quả cải cách bằng tổng thời gian từ nộp hồ sơ đến nhận tiền, số lần bổ sung và chi phí tuân thủ; đồng thời theo dõi số tiền hoàn sai, kết quả thu hồi và các trường hợp phân loại rủi ro chưa chính xác. Những chỉ tiêu này giúp nhận diện cả nơi vốn bị chậm lẫn nơi kiểm soát còn yếu, để điều chỉnh quy trình trên cơ sở kết quả thực tế.

8 trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng

Theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP của Chính phủ, chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) hiện nay áp dụng cho 8 trường hợp. Trường hợp thứ nhất áp dụng đối với hoạt động xuất khẩu. Đây là một trong những nhóm đối tượng được ưu tiên nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế.

Trường hợp thứ hai là các dự án đầu tư. Cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư mới đang trong giai đoạn đầu tư, hoặc dự án mở rộng đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định sẽ thuộc diện được xem xét hoàn thuế.

Trường hợp thứ ba dành cho hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất thuế GTGT 5%. Quy định này hỗ trợ các ngành nghề kinh doanh mặt hàng thiết yếu, giúp cân bằng nguồn vốn cho doanh nghiệp.

Trường hợp thứ tư thuộc về các cơ sở kinh doanh giải thể, phá sản. Khi chấm dứt hoạt động, nếu có số thuế GTGT nộp thừa hoặc chưa được khấu trừ hết, đơn vị sẽ được giải quyết hoàn thuế theo thủ tục pháp lý.

Trường hợp thứ năm là hàng hóa mua tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh của người nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Trường hợp thứ sáu áp dụng cho các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại, hoặc nguồn viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo.

Trường hợp thứ bảy là hàng hóa, dịch vụ mua tại Việt Nam của các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo quy định quốc tế.

Trường hợp thứ tám thuộc về các trường hợp hoàn thuế GTGT theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Trên cơ sở quy định nêu trên, người nộp thuế cần xác định chính xác trường hợp thuộc diện hoàn thuế của đơn vị mình, từ đó đối chiếu kỹ các điều kiện đi kèm để chuẩn bị đúng và đầy đủ thành phần hồ sơ, giúp rút ngắn thời gian xử lý và sớm được hoàn thuế.

Tin bài liên quan