Việt Nam - New Zealand tìm động lực mới cho quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện

0:00 / 0:00
0:00
Việt Nam và New Zealand đang đứng trước cơ hội đưa quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu và thực chất hơn. TS. James Kember, Chủ tịch Hội đồng Viện Quan hệ quốc tế New Zealand, cựu Đại sứ New Zealand tại Việt Nam trao đổi về những ưu tiên hợp tác giữa hai nước qua chuyến thăm New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
TS. James Kember, Chủ tịch Hội đồng Viện Quan hệ quốc tế New Zealand, cựu Đại sứ New Zealand tại Việt Nam

TS. James Kember, Chủ tịch Hội đồng Viện Quan hệ quốc tế New Zealand, cựu Đại sứ New Zealand tại Việt Nam

Theo ông, Việt Nam và New Zealand nên ưu tiên những lĩnh vực nào để tạo động lực mới cho quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện trong 5-10 năm tới?

Hai Chính phủ đã tạo dựng nền tảng cho quan hệ song phương thông qua nhiều thỏa thuận và giờ đây, các doanh nghiệp, tổ chức cần chủ động tận dụng những lợi thế mà các khung khổ hợp tác này mang lại. Dư địa để gia tăng kim ngạch thương mại giữa hai nước còn rất lớn.

Tuy nhiên, hợp tác song phương không chỉ dừng ở thương mại, mà còn cần mở rộng sang việc khuyến khích thế hệ trẻ am hiểu công nghệ của Việt Nam học tập, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với New Zealand. New Zealand có nhiều người bạn tốt tại Việt Nam, trong đó không ít người từng học tập tại New Zealand trước khi đảm nhiệm các vị trí cấp cao. Đây cũng là những cầu nối có vai trò tích cực trong việc chia sẻ những lợi ích mà hợp tác song phương mang lại.

Theo tôi, quan hệ hai nước vẫn còn đứng trước một số thách thức. Trước hết, quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện cần được cụ thể hóa bằng hành động và đặt chất lượng hợp tác lên hàng đầu. Tính toàn diện không có nghĩa là phải mở rộng hợp tác trên mọi lĩnh vực, mà quan trọng hơn là tập trung nguồn lực và đi vào chiều sâu ở những lĩnh vực đã được xác định là có tiềm năng, như nông nghiệp, khoa học và công nghệ.

Việc thiết lập các đường bay thẳng giữa hai nước sẽ tạo thêm thuận lợi cho giao lưu và hợp tác, song cần được cân nhắc trên cơ sở đánh giá thực chất về tiềm năng thương mại.

Trên hết, đối thoại giữa các bộ trưởng, quan chức, nhà đầu tư, cộng đồng doanh nghiệp và các chuyên gia chính sách cần tiếp tục được duy trì, qua đó giúp hai bên hiểu rõ hơn quan điểm của nhau và tìm kiếm những cơ hội hợp tác mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước.

Những chuyến thăm cấp cao như chuyến thăm New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa quan trọng trong việc mở ra những cơ hội hợp tác mới, đặc biệt trong bối cảnh môi trường an ninh và thương mại toàn cầu đang trải qua những thay đổi sâu sắc. Đã 17 năm kể từ chuyến thăm tương tự gần nhất, tôi cho rằng, những chuyến thăm tiếp theo sẽ diễn ra thường xuyên hơn khi quan hệ Việt Nam - New Zealand ngày càng được củng cố và gắn kết.

Kết nối doanh nghiệp góp phần đưa quan hệ Việt Nam - New Zealand ngày càng đi vào chiều sâu. Nguồn ảnh: Đại sứ quán New Zealand tại Việt Nam

Kết nối doanh nghiệp góp phần đưa quan hệ Việt Nam - New Zealand ngày càng đi vào chiều sâu. Nguồn ảnh: Đại sứ quán New Zealand tại Việt Nam

Bằng việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược từ năm 2020, Việt Nam và New Zealand cần làm gì để đưa mối quan hệ này đi vào chiều sâu, qua đó tạo ra những giá trị kinh tế và chiến lược thiết thực hơn cho cả hai nước?

Việt Nam và New Zealand thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện lần đầu vào năm 2009, được ký kết trong chuyến thăm New Zealand của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư Việt Nam tới New Zealand và diễn ra chỉ 2 năm sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vào năm 2007.

Cùng với sự phát triển của quan hệ kinh tế và chính trị, hai nước thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược vào năm 2020, sau đó tiếp tục nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện vào năm 2025. Mỗi bước tiến trong quá trình này, cùng với những khung khổ như Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Australia - New Zealand năm 2009 đều cho thấy mức độ tin cậy ngày càng gia tăng trong quan hệ hai nước, không chỉ giới hạn ở thương mại.

Thách thức phía trước là phải bảo đảm rằng, đằng sau những ngôn từ tốt đẹp trong các thỏa thuận là hành động cụ thể, với các chương trình công tác, xác định những ưu tiên, cũng như duy trì tham vấn thường xuyên không chỉ ở cấp bộ trưởng, mà còn giữa các quan chức, đối tác ngoài Chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp.

Các khung khổ đã có sẵn, nhưng giờ đây, cần những chủ thể khác tận dụng chúng để thúc đẩy mạnh mẽ hơn các hoạt động kinh tế và chính trị.

Sau gần 2 thập kỷ kể từ khi ông giữ cương vị Đại sứ New Zealand tại Việt Nam (2006-2009), những thay đổi nào của Việt Nam gây ấn tượng mạnh nhất với ông?

Trong những năm đầu của mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - New Zealand, quan hệ hai nước tương đối trầm lắng, với kim ngạch thương mại ở mức thấp. Trong nhiệm kỳ của tôi tại Hà Nội vào cuối những năm 2000, trọng tâm hợp tác chủ yếu là viện trợ phát triển, giáo dục và hợp tác quốc phòng, cùng với nỗ lực tìm kiếm hướng đi mới để thúc đẩy thương mại song phương.

Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn đặt nền móng cho một thời kỳ Việt Nam chủ động và tích cực hơn trên trường quốc tế, với việc gia nhập WTO năm 2007 và lần đầu tiên đảm nhiệm vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong nhiệm kỳ 2008-2009.

Đến thời điểm hai nước tiến hành các chuyến thăm cấp Thủ tướng vào năm 2015, gồm chuyến thăm New Zealand của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chuyến thăm đáp lễ của Thủ tướng John Key, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 của New Zealand, với kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1,2 tỷ NZD (khoảng 703 triệu USD). Khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược vào năm 2020, con số này đã tăng lên 2 tỷ NZD, tương đương khoảng 1,17 tỷ USD.

Đến các chuyến thăm cấp Thủ tướng tiếp theo vào năm 2022 giữa Thủ tướng Jacinda Ardern và Thủ tướng Phạm Minh Chính, thương mại song phương đã đạt 2,7 tỷ NZD (khoảng 1,58 tỷ USD), đưa Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 14 của New Zealand.

Bên cạnh thương mại, nhiều mối liên kết giữa nhân dân hai nước cũng ngày càng được mở rộng, trong đó có du lịch, giáo dục và sự phát triển của cộng đồng người Việt Nam tại New Zealand.

Các cuộc trao đổi thường xuyên về các vấn đề chính sách đối ngoại giữa Học viện Ngoại giao Việt Nam và Tổ chức Asia New Zealand Foundation cũng cho thấy, hai bên coi trọng đối thoại cởi mở và thẳng thắn. Kể từ năm 2009, các cuộc trao đổi này được tổ chức thường niên, ngoại trừ giai đoạn gián đoạn do đại dịch Covid-19.

Những thay đổi đó diễn ra song song với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, cũng như sự xuất hiện của một thế hệ trẻ năng động, sẵn sàng tiếp cận và tận dụng những tiến bộ mới nhất trong công nghệ và công nghệ thông tin.

Theo ông, New Zealand và Việt Nam có thể học hỏi gì từ nhau khi cả hai nước đang ứng phó với một môi trường khu vực và toàn cầu thay đổi nhanh chóng?

Nói ngắn gọn, quan hệ song phương hiện đã cân bằng hơn. Theo đó, New Zealand cần chủ động hơn trong việc hợp tác và làm việc với các doanh nghiệp, cũng như cơ sở nghiên cứu của Việt Nam vì lợi ích chung.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt, trong một cuộc trao đổi tại New Zealand vào năm ngoái, đã nhấn mạnh, mặc dù các chương trình trao đổi giáo dục truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng, Việt Nam đã sẵn sàng hợp tác ở cấp độ giáo dục cao hơn và mong muốn chứng kiến các Trung tâm Xuất sắc của ASEAN được thành lập tại New Zealand.

Trong chuyến trở lại Việt Nam vào năm ngoái, ngay sau đợt lũ lụt nghiêm trọng tại miền Trung, tôi nhận thấy, những thách thức về môi trường, đặc biệt là do biến đổi khí hậu, đang tác động đến tất cả chúng ta. Hai quốc gia cần tăng cường hợp tác hơn nữa, đồng thời thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực an ninh hàng hải, khi tự do hàng hải trên các vùng biển quốc tế đang chịu nhiều sức ép.

Từ góc nhìn của ông, sự trỗi dậy của Việt Nam trong khu vực đang thay đổi cách New Zealand nhìn nhận và tiếp cận Đông Nam Á như thế nào?

Một Thủ tướng New Zealand có tầm nhìn xa đã nhận định ngay từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1975, rằng Việt Nam đã trở thành quốc gia quan trọng nhất ở bán đảo Đông Dương, với tiềm năng đóng vai trò đáng kể trong việc định hình tương lai của Đông Nam Á.

Hơn 20 năm kể từ khi tới Hà Nội trên cương vị Đại sứ, tôi vẫn nhớ rõ chỉ thị khi đó là phải theo dõi sát Việt Nam - một quốc gia được kỳ vọng sẽ trở thành “con hổ châu Á” tiếp theo.

Cũng trong giai đoạn đó, giao lưu và hợp tác giữa hai nước ngày càng được mở rộng, trong đó có sự gia tăng số lượng quan chức Việt Nam sang New Zealand học tập, đặc biệt khi Việt Nam chuẩn bị đảm nhiệm vai trò chủ nhà của nhiều hội nghị ASEAN và các diễn đàn khu vực, trong đó có APEC 2027.

Những đánh giá ban đầu ấy theo thời gian đã được củng cố rõ nét. Ngày nay, New Zealand không chỉ nhìn nhận Việt Nam như một đối tác quan trọng trong quan hệ song phương, mà còn coi việc hợp tác với Việt Nam là một cách để tăng cường gắn kết với ASEAN và tận dụng tốt hơn vai trò ngày càng nổi bật của Việt Nam trong khu vực.

Tin bài liên quan