Tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp nội còn thấp
Số liệu về tình hình xuất nhập khẩu năm 2025 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố đã cho thấy những con số bất ngờ: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đã vượt mốc 930 tỷ USD, tăng thêm cả chục tỷ USD so với ước tính trước đó. Riêng xuất khẩu cán đích trên 475 tỷ USD, tức tăng gần 70 tỷ USD so với mức 405,9 tỷ USD của năm 2024.
Quy mô xuất nhập khẩu đã tăng thêm 143 tỷ USD so với năm 2024, nhưng khi nhìn vào cơ cấu đóng góp của các khu vực doanh nghiệp và mặt hàng, có thể thấy tỷ trọng của doanh nghiệp trong nước đang teo lại. Cụ thể, trong số 475 tỷ USD thu về từ xuất khẩu, khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp chưa tới 23%, với xấp xỉ 108 tỷ USD, giảm 6,1% (trong khi năm 2021, tỷ trọng này là 26,4%).
Đối lập với sự suy giảm của khu vực trong nước, khối FDI tiếp tục chứng minh vai trò trụ cột và ngày càng phình to khi chiếm hơn 77% kim ngạch xuất khẩu, tương đương 367 tỷ USD, tăng hơn 26% so với năm trước.
Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa ghi nhận xuất siêu 20,03 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 24,94 tỷ USD). Thành tựu quan trọng về mặt kinh tế vĩ mô là khả năng chuyển từ nhập siêu sang duy trì thặng dư thương mại kéo dài năm thứ 10 liên tiếp, nhưng khu vực kinh tế trong nước nhập siêu tới 29,43 tỷ USD; khu vực có vốn FDI (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỷ USD.
Bộ Công thương cho hay, năm 2025, xuất nhập khẩu Việt Nam dù lập kỷ lục mới về quy mô, nhưng vẫn đối mặt nhiều điểm nghẽn về giá trị gia tăng, tỷ trọng đóng góp giữa khu vực FDI và nội địa, cấu trúc thị trường và khả năng tận dụng hệ thống các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Việt Nam hiện là cường quốc xuất khẩu với kim ngạch cao, song giá trị gia tăng chưa đạt như kỳ vọng; phần lớn hàng xuất khẩu thuộc nhóm hàng gia công, chế biến. Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu chủ yếu là gia công, lắp ráp; còn nông sản, thủy sản phần lớn xuất khẩu thô và chưa có thương hiệu.
Hơn nữa, kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI lớn, cũng đồng nghĩa xuất khẩu hàng hóa chịu rủi ro cao trước các biến động chính sách và chuỗi cung ứng toàn cầu.
TS. Lê Quốc Phương, chuyên gia thương mại nhận định, mô hình xuất khẩu kim ngạch lớn, nhưng giá trị gia tăng thấp đang tiềm ẩn rủi ro cao, nhất là nguy cơ bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Bên cạnh đó là rào cản thuế quan và phi thuế quan trong bối cảnh hệ thống thương mại đa phương suy yếu.
Một điểm nghẽn khác là khả năng tận dụng các FTA còn chưa đồng đều. Mức độ tự do hóa thương mại có xu hướng tăng với 17 FTA, nhưng còn hạn chế trong phát triển các mặt hàng xuất khẩu mới, chưa đa dạng hóa sản phẩm. Nhiều ngành hàng chủ lực như nông, thủy sản, dệt may, da giày, điện tử vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chưa phát triển các sản phẩm công nghệ cao.
Tính toán lại mô hình xuất khẩu
TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) nhận xét, mô hình tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam dựa vào mở rộng quy mô, phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu từ bên ngoài, đang bộc lộ nhiều hạn chế. “Xuất khẩu nhiều, nhưng nhập khẩu cũng lớn, tức nặng về gia công, đồng nghĩa giá trị gia tăng thu về không tương xứng. Vì thế, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của các ngành xuất khẩu lớn đang là bài toán cần lời giải”, ông Lâm chỉ ra.
![]() |
Với ngành dệt may, sau hơn một thập kỷ tăng trưởng nóng nhờ đón dòng vốn FDI và đòn bẩy từ các FTA, đóng góp doanh số 46 tỷ USD trong năm 2025, nhưng đà tăng này không thể duy trì mãi. Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), ông Lê Tiến Trường đánh giá, dệt may Việt Nam đứng thứ hai thế giới với quy mô 46-47 tỷ USD, không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng 10% mỗi năm, bởi tổng cầu toàn cầu chỉ tăng khoảng 1,7-2,5%.
Từ thực tế này, Vinatex lựa chọn chiến lược tăng trưởng theo chiều sâu, mục tiêu là tăng thặng dư xuất khẩu khoảng 10% thông qua việc giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu, tận dụng tốt hơn nguồn cung trong nước.
“Bản chất đóng góp vào GDP là thặng dư xuất nhập khẩu, chứ không phải là tăng kim ngạch”, ông Trường lý giải. Cùng với đó là nâng cao thu nhập người lao động, tự động hóa và cải tiến tổ chức sản xuất, nâng tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) lên khoảng 5%, nhờ phát triển sản phẩm mới, giá trị gia tăng khác biệt…
Tính toán lại mô hình xuất khẩu càng trở nên cấp thiết hơn khi nhìn vào con số đóng góp của ngành điện tử. Kim ngạch xuất khẩu điện tử năm 2025 của Việt Nam “bùng nổ”, giúp thu về gần 165 tỷ USD, trong đó máy tính, điện tử và linh kiện xấp xỉ 108 tỷ USD. Lần đầu tiên, Việt Nam có nhóm hàng xuất khẩu đạt doanh thu 3 con số, phản ánh quy mô và sức ảnh hưởng ngày càng lớn của lĩnh vực này trong cơ cấu thương mại quốc gia, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn về sự phụ thuộc vào nhập khẩu linh kiện, nguyên vật liệu và khu vực FDI.
“Xuất khẩu 165 tỷ USD, nhưng nhập khẩu tới 150,7 tỷ USD (tăng 40,7%), tức càng xuất khẩu nhiều, nhập khẩu càng tỷ lệ thuận, tiềm ẩn rủi ro hiện hữu và dễ rơi vào “tầm ngắm” phòng vệ thương mại từ các thị trường”, một chuyên gia lo ngại.
Việt Nam nhập khẩu lượng lớn nguyên vật liệu như linh kiện điện tử, hóa chất, phụ liệu dệt may từ các thị trường châu Á, không chỉ gây thâm hụt thương mại lớn với các thị trường này, mà còn khiến xuất khẩu dễ bị tổn thương trước các biến động địa chính trị hoặc chính sách kiểm soát xuất khẩu nguyên liệu của các quốc gia khác.
Năm 2026, dư địa xuất nhập khẩu tiếp tục đến từ phục hồi nhu cầu tại các thị trường lớn, khai thác sâu các FTA và chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, rủi ro từ các chính sách thương mại đang hiện hữu, cùng tiêu chuẩn xanh và yêu cầu xuất xứ ngày càng khắt khe, vẫn là rào cản lớn.
Lo ngại lúc này của không ít ngành hàng, nhất là điện tử, dệt may, đồ gỗ… là thuế quan đối ứng trong năm 2026 đang tạo sức ép với đơn hàng. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã lưu ý nhu cầu tiêu dùng suy yếu sẽ tác động đến xuất khẩu.
Giám đốc một doanh nghiệp dệt may tại Hưng Yên nêu thực tế, đơn hàng cho năm 2026 vẫn theo xu hướng số lượng nhỏ và đơn giá khó tăng, nhất là khi nhà nhập khẩu đề nghị được chia sẻ phần nào thuế quan. Giá đơn hàng khi đàm phán cho năm 2026 nhìn chung giảm khoảng 5-7%.
Kết hợp với chi phí nguyên vật liệu nhập khẩu tăng, cùng với tỷ giá USD tăng cao đã làm giảm tính cạnh tranh về giá của sản phẩm xuất khẩu, tạo thêm khó khăn cho các doanh nghiệp, nhất là khu vực sản xuất trong nước phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu.
Tại Hội nghị Tham tán thương mại 2025, Tham tán thương mại Việt Nam tại nhiều thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản… đã cảnh báo các doanh nghiệp về nguy cơ gia tăng rào cản xuất khẩu; từ nông, thủy sản, pin năng lượng mặt trời, đồ gỗ, đến sắt thép đều đang đối mặt với nguy cơ gia tăng các vụ việc phòng vệ thương mại từ Mỹ, EU…
Ngoài các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, doanh nghiệp còn phải đối mặt với việc gia tăng các rào cản kỹ thuật khi nhiều thị trường lớn đồng loạt nâng chuẩn trong thời gian tới. Theo đó, các nhà xuất khẩu sẽ phải gánh thêm nhiều chi phí cho các khâu kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và kiểm định, bởi chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể khiến lô hàng bị giữ lại, kéo theo chi phí phát sinh, làm hiệu quả đơn hàng giảm từ 10-15%.
Điều này cho thấy, trong bối cảnh mới, nếu không nâng cao chất lượng và kiểm soát chặt các mắt xích ngay từ đầu, chi phí tuân thủ sẽ trở thành rào cản lớn đối với xuất khẩu.
Để khai thác hiệu quả FTA trong năm 2026, làm mới động lực xuất khẩu, TS. Lê Quốc Phương nhấn mạnh, cần tập trung vào 4 trụ cột gồm nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng và tối ưu chi phí, gia tăng giá trị sản phẩm thông qua chế biến sâu và xây dựng thương hiệu, tuân thủ các quy định của FTA. Đây là con đường khó, nhưng doanh nghiệp Việt buộc phải đáp ứng nếu muốn đi xa.
