Một Việt Nam phú cường không phải chỉ là khát vọng hay ý chí, mà là một chiến lược phát triển quốc gia mang tính bản mệnh. Ảnh: Đức Thanh
Nhân dân là gốc của mọi sự phát triển quốc gia một cách dân chủ hiện đại, với bản sắc Việt Nam
Không có Nhân dân, không có dân tộc và không có đất nước. Và, đất nước tồn tại, phát triển trên nền đại đoàn kết toàn dân tộc với ý chí độc lập, tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường. Nhân dân là gốc nước, là sức mạnh vô địch. Đây là chân lý bất biến. Không có Nhân dân thì không có phú cường. Sự đồng lòng của hơn 106 triệu đồng bào trong nước và ở nước ngoài hành động vì danh dự của một Việt Nam hùng cường. Nhân dân là nguồn sức mạnh và mục tiêu tối thượng. Việt Nam Phú cường không thể tách rời Dân giàu, với Nhân dân là chủ thể và mục tiêu của mọi sự đổi mới và phát triển.
Sức mạnh và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam nằm ở lòng Dân và đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người kiểm nghiệm chân lý phát triển. Và, đến lượt mỗi người Việt Nam, không có con đường nào khác trên lộ trình hiện thực hóa thành công hệ giá trị ấy, xứng đáng một hạt nhân tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc đại đoàn kết, vì sức mạnh và danh dự đất nước.
Sức mạnh và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam nằm ở lòng Dân và đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người kiểm nghiệm chân lý phát triển.
Do đó, phát triển xã hội công dân tri thức, có đạo đức, có trách nhiệm, có khát vọng, nơi mỗi người Việt Nam đều mang trong mình ý chí và liêm sỉ phú cường.
Bất kỳ sự phát triển nào cũng phải đặt trong ổn định để đạt đến tầm mức mới. Lực lượng hiện thực hóa kỷ nguyên phú cường không chỉ là “tổ chức”, mà là năng lượng nhân sinh và trí tuệ quốc gia được tổ chức hóa. Phát triển lực lượng chính trị - tinh hoa lãnh đạo. Phát triển lực lượng tri thức - báo chí - văn hóa. Đặc biệt đề cao vai trò của giới trí thức, lý luận, báo chí và văn hóa - bộ não và linh hồn của công cuộc phát triển gương mặt và linh hồn dân tộc, trực tiếp khai mở và đồng kiến tạo không gian tinh thần của kỷ nguyên phú cường.
Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người kiểm nghiệm chân lý phát triển. Và chỉ có thể hiện thực hóa điều đó khi mỗi người Việt Nam trở thành một nhân tố của sự nghiệp phát triển văn minh Việt Nam - một hạt nhân của sức mạnh mềm của dân tộc.
Mọi quyết sách chính trị đều quy chiếu về phát triển bền vững con người, xã hội, quốc gia và mang tính toàn cầu
Phát triển là sứ mệnh lịch sử.
Đổi mới phải theo phương châm ổn định, đổi mới và phát triển nhân văn bền vững. Vượt qua khuôn khổ phát triển kinh tế - chính trị để hướng tới phát triển văn minh - trí tuệ - đạo lý.
Theo đó, đổi mới chính trị bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị và thể chế: Đổi mới chính trị không phải là thay đổi chế độ, mà là đổi mới tư duy, tìm tòi phương lược, hoạch định cơ chế, lộ trình phù hợp để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ chính trị, mà cốt lõi là vấn đề lợi ích một cách tổng hòa. Thể chế phải được xây dựng từ luật pháp thống nhất với truyền thống xã hội, pháp lý quốc tế, đảm bảo thượng tôn pháp luật và chủ quyền của Nhân dân; phải kết tinh khát vọng của Nhân dân.
Đảng, Nhà nước, dân tộc là những thực thể động, phải tự đổi mới để thích nghi, tồn tại và phát triển. Với tư duy chiến lược - kiến tạo tương lai, chính trị không chỉ là cầm quyền, mà là kiến tạo kỷ nguyên phú cường - một viễn kiến lý tưởng hóa, nhân văn hóa và hiện đại hóa toàn diện đất nước. Nó đòi hỏi tư duy nhân văn - dân chủ - khai phóng, không thể không đặt niềm tin vào con người Việt Nam với tư cách vừa là chủ thể, vừa là trung tâm của chiến lược phát triển đất nước. Cân bằng phát triển kinh tế với phát triển quy mô dân số phù hợp và phát triển môi trường sinh thái bền vững.
Nói một cách hình ảnh, mọi sự phát triển đều quay chung quanh con người, bảo đảm sự thống nhất toàn vẹn, trước hết là lợi ích, giữa con người với quốc gia, dân tộc và hài hòa với tất cả các quốc gia dân tộc khác trên toàn cầu, chứ tuyệt đối không phải ngược lại.
![]() |
| Phát triển toàn diện con người Việt Nam là mục tiêu cao nhất, để con người, văn hóa Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh căn bản, động lực gốc rễ phát triển đất nước |
Văn hóa, trí tuệ và con người phải thật sự là nguồn năng lượng chiến lược của phát triển Việt Nam hiện đại
Từ thăng trầm của lịch sử trường kỳ, văn hóa là nền tảng tinh thần của phát triển, là linh hồn của mọi cải cách, do đó, xây dựng và phát triển con người văn hóa là nhiệm vụ trung tâm của đổi mới. Lấy Văn hóa làm nền tảng và sứ mệnh phát triển quốc gia. Văn hóa là căn cốt, là sức sống bất diệt, là viên linh đơn trường tồn Việt Nam, là tấm căn cước của dân tộc trong hội nhập quốc tế. Văn hóa là nền tảng, linh hồn và động lực phát triển chiến lược chủ nghĩa xã hội Việt Nam - nấc thang văn hóa dân tộc thống nhất với văn hóa quốc tế.
Phát triển phải bắt đầu từ văn hóa, không chỉ đi từ kinh tế. Kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chỉ là công cụ để đi đến văn hóa ở một tầm mức cao hơn là chủ nghĩa xã hội. Phải lấy Văn hóa làm nền tảng dẫn dắt, sử dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực để đi sau vượt trước và lấy Nhân dân làm lực lượng gốc, làm sức mạnh vô tận.
Với tư duy chiến lược - kiến tạo tương lai, chính trị không chỉ là cầm quyền, mà là kiến tạo kỷ nguyên phú cường - một viễn kiến lý tưởng hóa, nhân văn hóa và hiện đại hóa toàn diện đất nước.
Phát triển văn hóa chính trị nhằm đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Sử dụng công nghệ cao và thời cơ cho phép để đi tắt đón đầu, phát triển rút ngắn, thực hiện chiến lược đi sau, nhưng vượt trước bằng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số; đồng thời phòng ngừa nguy cơ “nô lệ số”, “thuộc địa số”. Truyền thông - báo chí dẫn dắt dư luận, tiên phong truyền cảm hứng khát vọng và ý chí phú cường.
Phải bắt đầu đi từ văn hóa, không chỉ đi từ kinh tế đơn thuần, thiên lệch hay cắt khúc, khép kín; vô hình rơi vào vũng bùn phản văn hóa. Nền kinh tế thị trường là phương tiện, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là công cụ của Nhân dân để đi đến văn hóa xã hội chủ nghĩa. Do đó, càng phải lấy văn hóa để dẫn dắt phát triển kinh tế, phát triển chính trị, chủ động hội nhập quốc tế. Tư duy, tầm nhìn, mục tiêu phát triển, quyết sách chính trị hay kinh tế…, xét cho cùng, chính là văn hóa.
Phát triển toàn diện con người Việt Nam là mục tiêu cao nhất, để con người, văn hóa Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh căn bản, động lực gốc rễ phát triển đất nước.
Phát triển tư duy về Đảng lãnh đạo, cầm quyền hiện đại
Điều làm nên sự trường tồn và vĩ đại của dân tộc là giữ vững các nguyên tắc phát triển. Sự phát triển và hiện thực hóa kỷ nguyên phú cường phải thấu triệt nguyên tắc mọi cải cách, phát triển phải được đặt trong logic phát triển của Đảng - Dân tộc - Nhân dân - Đất nước, trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với khâu mấu chốt là phát triển quyền lực song hành với kiểm soát quyền lực. Buông lỏng khâu mấu chốt này là cầm chắc thất bại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân. Dưới chế độ ta, quyền lực là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Quyền lực, từ trong bản thể, tự nó mang tính chính đáng và sứ mệnh phục vụ Nhân dân. Mặt khác, quyền lực không chỉ là một phạm trù chính trị, mà nó như một phạm trù đạo đức - văn hóa - từ trong bản chất và sự vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, quyền lực không phải là công cụ cai trị, mà là năng lực phụng sự Nhân dân và phục vụ Tổ quốc.
Do đó, dưới ngọn cờ của Đảng, quyền lực ở nước ta tự nó hàm chứa tính chính đáng: quyền lực tồn tại chỉ chính đáng khi đặt trên nền tảng đạo lý nhân văn, vì Nhân dân; đồng thời, mang tính tự giới hạn: quyền lực không thể vô biên; bản chất tiến bộ và nhân văn của nó là tự biết giới hạn bởi luật pháp, đạo đức và kiểm soát xã hội; mặt khác, thấm đẫm tính chuyển hóa: quyền lực phải biến từ sức mạnh cứng của thể chế sang quyền lực mềm của lòng tin, trí tuệ và công bằng. Vấn đề ở đây không chỉ ở chỗ “ai có quyền lực” mà lãnh đạo thực thi quyền lực vận hành thế nào bảo đảm tính chính pháp, chính đáng và nhân văn. Đó là con đường tự kiểm soát của quyền lực.
Với tư cách là người lãnh đạo, cầm quyền, Đảng dẫn dắt tổ chức quyền lực và chịu trách nhiệm lịch sử trước Nhân dân. Đảng lãnh đạo kiến tạo và phát triển thể chế - hình hài chính trị của quyền lực dân chủ Việt Nam để chủ động nắm chắc sự nghiệp cầm quyền bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Quyền lực là của Nhân dân, dù được ủy quyền cho Nhà nước hay bất cứ tổ chức chính trị nào, tự nó đã thấm đẫm đạo lý và tinh thần phụng sự Tổ quốc.
Do đó, thể chế hóa quyền lực nhằm cân bằng động quyền lực; đồng thời, ngăn chặn sự tha hóa, thoái hóa quyền lực bằng luật pháp chính là sự không phụ lòng tin cậy của Nhân dân. Và, đến lượt thể chế, nếu nó là sự kết tinh của lịch sử, là phương tiện của dân chủ và là cấu trúc đảm bảo sự minh bạch, trách nhiệm, pháp quyền, thì thể chế phải là hình thức tổ chức của quyền lực và bản chất Nhân dân phải là linh hồn của hệ thể chế ấy.
Hệ thể chế phải là sản phẩm của trí tuệ chính trị Việt Nam, là công cụ để hiện thực hóa quyền lực của Nhân dân bằng pháp luật song hành với đạo lý. Trên lộ trình đổi mới thể chế, cần thấu triệt rằng, thể chế mạnh không nằm ở quy mô quyền lực mà ở tính công khai, minh bạch, công bằng, mà khả năng tự kiểm soát, tự điều chỉnh và tự phát triển quyền lực. Và, việc hoàn thiện thể chế không chỉ là ban hành hay sửa luật, mà rộng hơn là kiến tạo văn hóa dân chủ, để mọi quyền lực đều phải được kiểm soát bởi chính hệ quyền lực khác trong chỉnh thể hệ thống chính trị một cách đồng bộ, thống nhất và bởi chủ thể Nhân dân.
Kiểm soát nhằm cân bằng quyền lực, quyết không phải chia rẽ hay phá vỡ sự thống nhất và tổng hòa sức mạnh pháp lý và đạo lý của quyền lực. Không có quyền lực nào (dù mạnh) không bị kiểm soát, cũng không có quyền lực nào tồn tại được, nếu thoát hệ thể chế. Do đó, cân bằng quyền lực là bảo đảm sự vận hành hài hòa, trên nền tảng nguyên tắc tập trung dân chủ giữa lãnh đạo - quản lý - giám sát và phản biện bằng thể chế kỷ luật, luật pháp và đạo lý. Tri thức nếu thiếu đạo đức thì nguyên vẹn là sự bạo tàn.
Vì thế, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Thể chế pháp quyền hiện đại phải bảo đảm Nhà nước của pháp luật, không phải của ý chí cá nhân; quyền lực được vận hành và giới hạn bằng luật pháp và đạo lý. Đổi mới tư duy lập pháp, tháo gỡ những điểm nghẽn bằng thể chế, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch thống nhất cho phát triển.
Mặt khác, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước, bảo đảm quyền lực được kiểm soát bằng chính quyền lực trong hệ thống và xã hội được pháp luật thừa nhận và bảo vệ trên nền tảng kỷ luật của Đảng thống nhất với pháp luật của Nhà nước và dư luận xã hội.
Đồng thời, kiểm soát, cân bằng quyền lực động phải vận hành trong cơ chế pháp lý và thấm đẫm đạo lý. Kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị một cách toàn diện, biện chứng và nhân văn là mấu chốt bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh và tính chính pháp, chính danh của Đảng lãnh đạo, cầm quyền; bảo đảm bản chất của quyền lực của Nhà nước một cách chính đáng và nhân văn.
Do đó, nếu kiểm soát khéo, quyền lực trở thành sức mạnh trí tuệ của Nhà nước và trí tuệ của Nhân dân, càng tôn vinh và bảo đảm sức mạnh chính pháp, chính đáng của Nhà nước; mặt khác, cố nhiên, nếu không có cơ chế kiểm soát phù hợp, quyền lực nhất định bị tha hóa và thoái hóa.
Vì vậy, dù Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nhưng không được phép đứng ngoài luật pháp. Đảng là trung tâm trí tuệ, hạt nhân đoàn kết, càng là người tiên phong dẫn đường và không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự nâng tầm trí tuệ, đạo đức và văn minh ngang tầm dẫn dắt đất nước. Quyền lực, nếu thiếu đạo đức, sẽ rơi vào rối loạn, thậm chí hỗn mang.
Đặc biệt, phải tiên phong kiểm soát chính mình bằng hệ thống kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời, lãnh đạo xây dựng Nhà nước thật sự là Nhà nước pháp quyền - bảo đảm mỗi cá nhân, cộng đồng và toàn dân tộc vận hành trong quyền lực pháp lý cân bằng, công bằng và được chính công lý của quyền lực bảo vệ một cách đạo lý và nhân văn.
Đổi mới nền hành chính quốc gia ba cấp tinh gọn, hiện đại; bố trí cán bộ chiến lược mang tầm chiến lược nhằm phá vỡ thế bị động, nạn khép kín, cục bộ, cát cứ, lợi ích nhóm và nhóm lợi ích. Không ngừng hoàn thiện thể chế xã hội phản biện và giám sát của Nhân dân. Nếu thất bại về pháp lý có thể sửa sai được, nhưng thất bại về đạo lý, dứt khoát khó còn chốn để dung thân. Đây chính là yêu cầu phát triển quyền lực chính trị - văn hóa quyền lực và đạo đức quyền lực trong bộ máy của Nhà nước và hệ thống chính trị mà Đảng là người chịu trách nhiệm lịch sử và pháp lý trước dân tộc.
Đổi mới, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, nhất là người đứng đầu ngang tầm nhiệm vụ song hành với xây dựng chính quyền liêm chính, phục vụ, kiến tạo phát triển, thực sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tinh gọn bộ máy là công việc đại sự quyết định thành công.
Không một ai và không một tổ chức nào được phép đứng ngoài pháp luật. Trái thế là phản quyền lực, phá hoại Quốc pháp và làm phá vỡ kỷ cương xã hội.
Lòng tin của Nhân dân là thước đo sức mạnh tính chính pháp của quyền lực và của chính thể chế. Bởi, Nhân dân là chủ thể khởi nguyên, cao nhất và cuối cùng của quyền lực và dân chủ thực thi quyền lực là thước đo và sức mạnh văn minh của quyền lực, vì hạnh phúc của Nhân dân và Việt Nam phú cường.
Và, hệ thống quyền lực đó được kiểm soát bởi pháp lý và lòng Dân, không ngừng phát triển bởi bản lĩnh lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và vận hành đúng đắn bằng Nhà nước, bảo đảm sự cân bằng động phụng sự Nhân dân, phục vụ Tổ quốc và phù hợp tinh thần thời đại.
*
* *
Không sự phát triển nào bền vững, nếu thiếu nền tảng đạo đức và văn hóa.
Không có sức mạnh chính trị nào lớn hơn sức mạnh lòng Dân.
Không tương lai nào vững chắc, nếu thiếu niềm tin và khoa học phát triển.
Không có quốc gia phú cường, nếu con người không giàu có về trí tuệ và dân tộc không tỏa sáng nhân văn.
Đó là tư tưởng con đường phát triển Việt Nam trên nền tảng của tầm nhìn xa, của niềm tin, của đạo đức và của tinh thần khai sáng, với tư duy độc lập mang hồn Việt Nam, trí Việt Nam và tâm Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước phú cường, nhân văn, thấm đẫm tinh thần thời đại, trong tầm nhìn năm 2050, nhịp bước cùng thời đại.
Xuân Bính Ngọ 2026, trong tầm nhìn Xuân Canh Ngọ 2050, với bản lĩnh Phù Đổng, 25 năm dân tộc ta nhất định “mã đáo thành công”.
