Kinh tế Việt Nam chờ thêm cú huých từ bên ngoài

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Năm 2023 với nhiều khó khăn, thách thức đã dần đi qua. Sang năm 2024, theo PGS-TS. Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) - Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, tình hình sẽ khả quan hơn, nhưng thách thức vẫn còn.
PGS-TS. Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) - Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

PGS-TS. Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) - Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nếu được dùng một từ miêu tả nền kinh tế trong năm 2023, ông sẽ dùng từ nào?

Nền kinh tế trong năm 2023 có thể miêu tả bằng hai từ “khó khăn”, khó khăn trong nhiều lĩnh vực, khó khăn trong nhiều khía cạnh và khó khăn khi tăng trưởng thấp.

Nhiều tổ chức ước tính tăng trưởng kinh tế năm 2023 sẽ đạt khoảng 5%, nhưng tôi cho rằng, con số này chưa phản ánh đúng thực chất của nền kinh tế. Nhìn chi tiết vào các lĩnh vực, các chỉ số về ngành, doanh nghiệp của Việt Nam dễ thấy rằng, các ngành nghề đều có sự suy giảm, hoặc tăng trưởng thấp so với năm 2022.

Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng năm 2024 là 6 - 6,5%. Ông có đánh giá gì về mục tiêu này?

Nếu xét về tình hình chung năm 2024, nền kinh tế có thể sẽ tốt do mức nền thấp trong năm 2023. Nếu tình hình kinh tế thế giới cải thiện, thì việc đạt mục tiêu 6 - 6,5% là điều có thể, nhưng tôi cho rằng, đó vẫn là mục tiêu khá cao và nhiều thách thức.

Những thách thức ông muốn đề cập trong năm 2024 là gì?

Hiện nay, năng lực sản xuất các doanh nghiệp trong nước đang vượt quá so với nhu cầu.

Với nhu cầu bên ngoài, xuất khẩu có dấu hiệu cải thiện trở lại từ cuối quý III/2023 khi đơn hàng khu vực Tây Âu và Mỹ tăng do nhu cầu phục vụ mùa mua sắm cuối năm, nhưng có thể đến tháng 12/2023, đơn hàng sẽ sụt giảm trở lại.

Nguyên nhân xuất phát từ công cuộc chống lạm phát của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới. Dù đã có những kết quả tích cực ban đầu, nhưng mức lạm phát vẫn đang cao hơn so với mục tiêu, do vậy, các ngân hàng trung ương này sẽ giữ lãi suất ở mức cao trong thời gian lâu hơn, nếu giảm cũng sẽ giảm từ từ.

Chính sách tiền tệ thắt chặt đã và đang ngấm vào nền kinh tế của các nước phát triển, khiến sức mua của người dân sụt giảm. Sức mua này không thể sớm quay trở lại nhanh chóng, ngay cả khi lãi suất giảm.

Trong khi đó, đây chính là các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, do đó, tôi không kỳ vọng nhiều xuất khẩu của Việt Nam sẽ có đột phá trong năm 2024, mà chỉ cải thiện so với năm 2023. Khả năng tăng trưởng 2 con số như những năm trước là rất thấp.

Với nội tại nền kinh tế, các doanh nghiệp tương đối bi quan, co cụm lại, không mở rộng sản xuất, nhất là trong lĩnh vực bất động sản, xây dựng. Pháp lý đang là vướng mắc lớn nhất khiến rất ít dự án bất động sản mới được phê duyệt hay khởi công. Ngoài ra, khó khăn còn đến từ việc lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, trong khi đầu ra chưa được đảm bảo. Việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu cũng đã khó khăn hơn trước, chỉ những doanh nghiệp chất lượng rất tốt mới huy động được vốn ở kênh này.

Nhìn chung, tất cả nguồn tài trợ đầu tư cho khu vực tư nhân đều đang gặp khó và còn kéo dài sang năm sau, do những vấn đề trên khó có thể giải quyết nhanh chóng.

Không chỉ đầu tư, tiêu dùng khu vực tư nhân cũng đang giảm. Điều này xuất phát từ tâm lý thận trọng của người tiêu dùng khi thu nhập giảm sút, kinh tế bấp bênh. Tài sản của các hộ gia đình cũng mất mát trong năm qua do vướng vào các vụ trái phiếu, kẹt trong bất động sản, giá cổ phiếu sụt giảm…, nên nguồn lực cho tiêu dùng giảm sút.

Với những thách thức này, đầu tư công liệu có phải là một động lực cho nền kinh tế?

Nhà nước đang đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, nhưng đầu tư công không thể thay thế cho toàn bộ các động lực khác, mà phải đến từ khu vực tư nhân. Nhà nước cũng không thể có đủ nguồn lực để kéo dài mãi cho đầu tư công, thúc đẩy kinh tế.

Vậy theo ông, động lực cho kinh tế Việt Nam trong năm sau sẽ đến từ đâu?

Kỳ vọng lớn nhất và tích cực nhất đến từ kinh tế thế giới hồi phục và chính sách tiền tệ của các nước lớn có thể đảo chiều nhanh hơn so với dự kiến.

Kinh tế Việt Nam có độ mở rất lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu bằng 2 lần GDP; đầu tư trực tiếp, gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam cũng chiếm tỷ trọng khá lớn. Do đó, kinh tế thế giới phục hồi sẽ tạo điểm “mồi” tích cực cho kinh tế trong nước.

Tin bài liên quan