Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho hay, 5 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tính bình quân 5 năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn là 3,8%. Chỉ số LDR toàn hệ thống (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động) đang ở mức 111 - 112%, nghĩa là cho vay ra 112 đồng thì chỉ huy động được 100 đồng, còn 12 đồng ngân hàng phải huy động từ nguồn khác.
Dù thời gian qua, toàn hệ thống luôn đảm bảo 100% khả năng chi trả, giữ cho “mạch máu” của nền kinh tế luôn thông suốt, song ông Quang khẳng định, trong bối cảnh tín dụng tăng cao hơn huy động hiện nay, đảm bảo an toàn thanh khoản gặp nhiều thách thức. Đây cũng là lý do khiến lãi suất tăng từ tháng 11/2025 đến nay.
Chính phủ và các bộ ngành đã chung tay xử lý vấn đề thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Từ thực trạng giải ngân đầu tư công chậm, số dư tiền gửi kho bạc tăng nhanh, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 168, cho phép Bộ Tài chính được chủ động quyết định hạn mức sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại, có thể vượt mức 50% ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi (quy định hiện tại tối đa là 50%). Trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng thương mại được tính 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số khi xác định tỷ lệ LDR.
Sau khi Nghị quyết 168 ra đời, thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh để hỗ trợ thanh khoản hệ thống tốt hơn.
Cùng với các giải pháp trên, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã mở nhiều “cửa sổ” để hỗ trợ thanh khoản hệ thống, đặc biệt là điều hành linh hoạt thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (Swap) để cung ứng thanh khoản VND kịp thời cho các tổ chức tín dụng. Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Sinhan Việt Nam, lãi suất huy động nhiều khả năng sẽ ổn định hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, khả năng quay trở lại vùng đáy như giai đoạn trước là không cao do áp lực huy động vốn của toàn hệ thống vẫn còn tương đối lớn.
Trong bối cảnh huy động từ thị trường 1 chưa theo kịp nhu cầu tăng trưởng tín dụng, các kênh huy động như phát hành giấy tờ có giá và thị trường liên ngân hàng tiếp tục đóng vai trò quan trọng hơn trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng. Mặt bằng lãi suất trái phiếu ngân hàng đã thiết lập mức cao mới trong năm 2026, với nhiều đợt phát hành có lãi suất dao động khoảng 8 - 9%/năm.
PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) dự báo, trong 6 tháng cuối năm 2026, mặt bằng lãi suất của Việt Nam nhiều khả năng sẽ diễn biến theo hướng ổn định là chủ đạo, có thể tăng nhẹ ở lãi suất huy động nhưng lãi suất cho vay khó tăng mạnh do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nhưng câu hỏi quan trọng là liệu còn dư địa để giảm lãi suất cho vay hay không.
Theo ông Huân, dư địa hạ lãi suất vẫn còn nhưng không nhiều, bởi lãi suất điều hành hiện đã ở mức khá thấp so với giai đoạn trước. Nếu tiếp tục giảm mạnh lãi suất điều hành sẽ tạo áp lực lên tỷ giá và dòng vốn, đặc biệt trong bối cảnh Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed) chưa chuyển sang chu kỳ nới lỏng mạnh. Các ngân hàng vẫn phải duy trì lãi suất huy động đủ hấp dẫn để giữ chân người gửi tiền, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn, thanh khoản và các chuẩn mực Basel. Cuối cùng là nợ xấu đang có xu hướng gia tăng trong quý I/2026. Khi rủi ro tín dụng tăng lên, ngân hàng phải trích lập dự phòng nhiều hơn, làm hạn chế khả năng giảm lãi suất cho vay.
Vì thế, dư địa giảm lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm chủ yếu đến từ các biện pháp phi lãi suất như giảm chi phí vận hành thông qua chuyển đổi số, tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng, các chương trình tín dụng ưu đãi theo ngành nghề, các gói bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), hỗ trợ lãi suất có mục tiêu từ ngân sách nhà nước đối với các lĩnh vực ưu tiên.
Trong kịch bản cơ sở, PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng, lãi suất cho vay bình quân có thể giảm thêm khoảng 0,3 - 0,5%/năm đối với một số nhóm khách hàng tốt và lĩnh vực ưu tiên, song sẽ rất khó kỳ vọng một đợt giảm mạnh 1 - 2%/năm trên diện rộng như giai đoạn nền kinh tế cần kích thích đặc biệt.