Nghị quyết 10-NQ/TW và câu hỏi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước

0:00 / 0:00
0:00
Sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã có một vị thế khác. Bởi vậy, vấn đề đặt ra lúc này không phải là làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, mà là phải trả lời được câu hỏi sâu sắc hơn: “Làm thế nào để sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, nâng cao năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và sự tự chủ của nền kinh tế?”.
Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam

Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam

Câu hỏi sâu sắc

Bước chuyển chiến lược trong tư duy về đầu tư nước ngoài một lần nữa được nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức sáng 30/6. Chỉ 22 ngày sau khi được ban hành, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã bắt đầu được đưa vào cuộc sống, khởi đầu từ việc quán triệt, thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài.

Thậm chí, không chỉ là bước chuyển chiến lược về tư duy thu hút đầu tư nước ngoài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị đã nhấn mạnh, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã thể hiện “sự thay đổi trong tư duy phát triển”. Đó là “không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn, mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia”.

Từ góc độ đó, một câu hỏi sâu sắc đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra là, Việt Nam giờ đây đã có một vị thế khác, vấn đề đặt ra lúc này không phải là “làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa”, mà là phải trả lời được câu hỏi: “Làm thế nào để sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, nâng cao năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và sự tự chủ của nền kinh tế?”.

Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực, thu hút trên 549 tỷ USD vốn đăng ký, với hơn 46.000 dự án còn hiệu lực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.

Nhưng bối cảnh hiện nay đã khác, mục tiêu, tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới cũng đã khác. Vấn đề đặt ra không chỉ là thu hút vốn, mà phải là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia. Nghị quyết 10-NQ/TW không chỉ đơn thuần bàn về chuyện thu hút đầu tư nước ngoài, mà là phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - như một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia.

Đánh giá cao và bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Nghị quyết số 10-NQ/TW, ông Takuya Sahashi, Phó chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam cho rằng, nghị quyết này có liên quan mật thiết đến Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. “Đây là hai bánh xe của tăng trưởng”, ông Takuya Sahashi nói.

Khi phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhắc đến một bánh xe thứ ba, đó là khu vực kinh tế nhà nước. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, khi triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW, phải gắn chặt với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 70-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.

“Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam. Muốn vậy, doanh nghiệp tư nhân trong nước phải có điều kiện tham gia, học hỏi và từng bước vươn lên trong chuỗi giá trị. Kinh tế nhà nước phải đầu tư và dẫn dắt ở những lĩnh vực nền tảng, chiến lược, tạo hạ tầng và dư địa phát triển cho các khu vực khác. Cả 3 khu vực kinh tế trên không phát triển rời rạc, mà phải hợp tác và cùng cộng hưởng trong một chiến lược chung”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.

Thể chế đi trước, dòng vốn theo sau

Tại phiên họp Chính phủ về xây dựng pháp luật tháng 6 vừa qua, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm thể chế hóa các giải pháp chính sách tại Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Câu hỏi đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra. Vấn đề là làm sao để giải được câu hỏi đó?

Câu trả lời có lẽ nằm ngay ở các nhóm nhiệm vụ, giải pháp được đặt ra từ Nghị quyết số 10-NQ/TW và từ ngay chính các chỉ đạo trực tiếp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Theo đó, bên cạnh việc thống nhất về tư duy, thì điều quan trọng thứ hai là phải hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Tiếp theo đó, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu tư, gắn với mức độ thực hiện cam kết; phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới; đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư; và phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm.

“Thể chế đi trước, dòng vốn theo sau”, ông Hồ Kỳ Minh, Phó chủ tịch thường trực UBND TP. Đà Nẵng cũng nói như vậy.

Tại Hội nghị, lãnh đạo của 3 đầu tàu kinh tế Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng đã có những “hiến kế” quan trọng để phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đúng theo tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Trong đó, Đà Nẵng định hướng phát triển khu thương mại tự do thế hệ mới, ưu tiên các ngành công nghệ cao, bán dẫn, AI, năng lượng sạch và xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ.

Trong khi đó, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi trong bối cảnh dòng đầu tư toàn cầu đang dịch chuyển sang các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, AI…, nguồn nhân lực chất lượng cao đã trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trong thu hút đầu tư, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài thế hệ mới.

Còn ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND TP.HCM khẳng định việc đầu tàu kinh tế của cả nước sẽ tập trung phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế trở thành một “thiết chế tài chính quốc gia”, phục vụ sự phát triển của cả nền kinh tế và là cầu nối để các địa phương, doanh nghiệp Việt tiếp cận hiệu quả hơn với dòng vốn quốc tế.

“Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ là nơi đặt đại bản doanh của các quỹ đầu tư toàn cầu, các ngân hàng đầu tư, các công ty quản lý tài chính, tài sản và các trung tâm tài chính công nghệ. Đây chính là những chủ thể có khả năng phối hợp, dẫn dắt dòng vốn dài hạn vào các hạ tầng chiến lược của Việt Nam, cũng như của TP.HCM”, ông Được nhấn mạnh.

Theo ông Nguyễn Văn Được, cùng với sự phát triển của Trung tâm Tài chính quốc tế, Việt Nam sẽ tiếp nhận được “phần giá trị vô hình” của đầu tư nước ngoài. Đó là công nghệ tài chính, năng lực quản trị tiên tiến, chuẩn mực minh bạch quốc tế, hệ thống dữ liệu, mạng lưới chuyên gia và khả năng kết nối các chuỗi giá trị toàn cầu. “Đây mới là nguồn lực có ý nghĩa quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn”, ông Nguyễn Văn Được bày tỏ.

Thu hút đầu tư vào Trung tâm Tài chính quốc tế chính là một trong những ưu tiên chiến lược được đặt ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW. Thúc đẩy đầu tư vào mô hình này cũng chính là cách để Việt Nam có thể nâng cao nội lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tin bài liên quan