Việt Nam giữ vững vị thế trong thu hút FDI, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao. Trong ảnh: Sản xuất tại Samsung Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh
Kích hoạt lợi thế cạnh tranh mới
Sau gần 40 năm thực hiện chính sách mở cửa, lũy kế đến nay, dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam đạt hơn 525 tỷ USD vốn đăng ký, vốn thực hiện hơn 330 tỷ USD, chiếm trên 64%; cả nước hiện có hơn 44.800 dự án đầu tư nước ngoài.
Trong đó, các “đại bàng” như Intel, Samsung, Foxconn, NVIDIA, Qualcomm… đã chọn Việt Nam “làm tổ”, đặt cứ điểm sản xuất, mang theo công nghệ tiên tiến, chuyển giao tri thức và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Những dự án chiến lược này không chỉ tạo việc làm, mà còn thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa, giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhưng đó mới chỉ là một phần nhỏ, bởi phần lớn các dự án FDI vẫn tập trung vào lắp ráp, gia công với giá trị gia tăng thấp; trong khi các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học hay vật liệu mới chỉ chiếm tỷ lệ rất hạn chế. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc chuyển dịch nền kinh tế Việt Nam từ mô hình tăng trưởng dựa trên nhân công giá rẻ, sang mô hình dựa trên đổi mới sáng tạo và công nghệ tiên tiến.
Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan, Singapore - vốn thu hút FDI bằng các gói ưu đãi lớn về thuế và hạ tầng, Việt Nam cần có những đột phá mới. Theo đó, hai lợi thế cạnh tranh truyền thống là chi phí lao động thấp và lực lượng lao động dồi dào cần được thay thế. Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực để cạnh tranh, trong đó đặc biệt là vấn đề thể chế đã thực sự có một cuộc “lột xác”, trở thành điểm tựa để thu hút dòng vốn FDI trong năm 2026, nhất là các dự án công nghệ cao.
Điểm tựa vững chắc mang tên thể chế
Năm 2025 là dấu mốc đặc biệt của ngành ICT Việt Nam, không chỉ bởi hàng loạt hành động quyết liệt, hiệu quả, mà còn ở chiều sâu chính sách và tác động dài hạn tới cấu trúc phát triển quốc gia.
Có thể thấy rõ qua việc sáp nhập Bộ Thông tin và Truyền thông vào Bộ Khoa học và Công nghệ, đồng thời tái phân bổ chức năng về an ninh mạng, báo chí và truyền thông. Điều này cho thấy quyết tâm tái cấu trúc bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, phù hợp với thời đại số. Đây là sự điều chỉnh mang tính thể chế sâu sắc, phản ánh cách tiếp cận mới: quản lý ICT phải gắn chặt với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Sau khi hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các bộ, ngành đã bắt tay xây dựng hành lang pháp lý dẫn dắt sự phát triển của lĩnh vực, với mục tiêu tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế. Trong năm qua, Quốc hội đã thông qua 10 luật, gồm: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Luật Công nghiệp công nghệ số; Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Luật Chuyển đổi số; Luật Công nghệ cao (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Trí tuệ nhân tạo.
Đây là dấu mốc hiếm có trong hoạt động lập pháp, không chỉ của ngành khoa học và công nghệ mà với bất kỳ bộ, ngành nào, thể hiện rõ quyết tâm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế. Thể chế từng bị xem là rào cản, nay đã trở thành động lực, lợi thế cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc Quốc hội thông qua 10 đạo luật quan trọng đã tạo nên một “nền móng pháp lý số” hiếm có. Đặc biệt, việc ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo và Luật Công nghiệp công nghệ số đưa Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia sớm thiết lập khung pháp lý tương đối toàn diện cho AI, tài sản số và các ngành công nghệ mũi nhọn. Đây không chỉ là bước đi quản lý, mà còn là tuyên bố chiến lược về cách Việt Nam làm chủ công nghệ mới.
Đáng chú ý, việc công bố 11 nhóm công nghệ chiến lược và xác định các sản phẩm trọng điểm như AI tiếng Việt, 5G, robot, blockchain, UAV, cho thấy, Việt Nam đã chuyển từ “ứng dụng công nghệ” sang “lựa chọn công nghệ để làm chủ”. Đây là bước chuyển từ tư duy theo kịp sang tư duy dẫn dắt trong một số lĩnh vực then chốt, đồng thời mở ra cơ hội đầu tư vào các ngành, nhóm và dự án công nghệ chiến lược đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Song hành với dấu ấn chính sách là việc cả hệ thống chính trị vào cuộc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW. Từ Chính phủ, Quốc hội, đến các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp công nghệ lớn, tinh thần “khoa học - công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số là đột phá hàng đầu” đã được cụ thể hóa thành chương trình hành động, cơ chế thí điểm và nhiệm vụ rõ ràng. Nghị quyết 57 không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành trục xoay của tư duy phát triển quốc gia…
Theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, năm 2026 sẽ là thời điểm Việt Nam chấm dứt logic của mô hình tăng trưởng cũ dựa vào vốn đầu tư công, lao động giá rẻ và tài nguyên, để chuyển sang mô hình mới dựa trên năng suất tổng hợp (TFP), hàm lượng công nghệ, năng lực tự chủ và sức bật của doanh nghiệp trong nước - tức dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Lời cam kết và động lực mới
Mới đây, tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2025, trong các cuộc tiếp xúc và làm việc với lãnh đạo 20 tập đoàn công nghệ, tài chính hàng đầu thế giới, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định thông điệp: “Việt Nam là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế trong quá trình chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”.
“Chúng tôi cam kết thực hiện nghiêm túc các mục tiêu thiên niên kỷ và cam kết phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Việt Nam sẵn sàng mở cửa thị trường, tạo lập hành lang pháp lý để đón nhận các dòng vốn xanh, công nghệ xanh, công nghệ số từ các đối tác quốc tế”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Việt Nam sẽ đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, trong đó con người là nhân tố quyết định; xây dựng hệ thống nhà trường; hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động chất lượng cao.
Thủ tướng cũng khẳng định, Việt Nam sẽ đẩy mạnh hợp tác và chuyển giao khoa học - công nghệ, rất cần sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế và các doanh nghiệp hàng đầu thế giới, nhất là trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng nguyên tử…
Lời cam kết của người đứng đầu Chính phủ cùng những hành động quyết liệt nhằm xây dựng nền kinh tế giàu hàm lượng đổi mới sáng tạo trên nền tảng công nghệ tiên tiến, thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị và nhân lực thông minh đang tạo dựng niềm tin lớn đối với các nhà đầu tư quốc tế khi tham gia thị trường Việt Nam.
Theo TS. Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), mô hình thu hút FDI truyền thống dựa trên lao động giá rẻ, ưu đãi thuế và lắp ráp, gia công đã lỗi thời. Chưa kể, chi phí lao động tăng đang làm suy giảm lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, trong khi cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và yêu cầu tăng trưởng xanh, Việt Nam cần hoàn thiện chính sách thu hút FDI thế hệ mới; nâng cấp chất lượng FDI; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao năng lực công nghệ và tự chủ sản xuất; phát triển các khu công nghiệp xanh, bền vững. Đây là những yêu cầu cấp thiết để tận dụng cơ hội tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông Thắng đề xuất, Chính phủ ban hành Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới giai đoạn 2025-2035, phê duyệt bộ tiêu chí quốc gia về FDI thế hệ mới, đồng thời xây dựng gói ưu đãi đặc biệt cho công nghệ cao và bán dẫn.
Trong khi đó, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030, một trong những giải pháp quan trọng là huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng.
Hiện Bộ Tài chính đang xây dựng Đề án Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và Đề án Thu hút vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới, với các định hướng về thể chế, chính sách thông thoáng, hấp dẫn, vượt trội.
Cộng hưởng với nỗ lực sửa đổi các luật như Luật Đất đai, Quy hoạch, Đầu tư và các luật thuế, bao gồm Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Quản lý thuế…, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam sẽ tiếp tục được cải thiện, qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy dòng đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam, cũng như phát triển khu vực tư nhân trong nước.
“Việt Nam sẽ giữ vững vị thế top đầu khu vực về thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiên phong như bán dẫn, AI…”, Thứ trưởng Trần Quốc Phương khẳng định.
Bộ Tài chính đang xây dựng Đề án phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó định hướng tập trung vào 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên gồm:
Bán dẫn và điện tử chuyên dụng: thu hút các dự án OSAT (đóng gói, kiểm tra chip) và thiết kế vi mạch chuyên dụng.
Trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo (AI): phát triển hạ tầng dữ liệu đạt chuẩn xanh, an toàn, phục vụ chuyển đổi số.
Logistics số và khu thương mại tự do: xây dựng chuỗi cung ứng thông minh, hình thành cổng trung chuyển thương mại điện tử xuyên biên giới.
Y sinh, dược phẩm và thiết bị y tế: thu hút các tập đoàn đầu tư nhà máy dược phẩm công nghệ cao và trung tâm thử nghiệm lâm sàng khu vực.
Năng lượng sạch và vật liệu mới: phát triển sản xuất pin thế hệ mới, vật liệu nhẹ và hợp kim đặc biệt phục vụ chuyển đổi năng lượng.