Vào khoảng tháng 10/2011, nhiều báo đăng tải thông tin cả nước có khoảng 49.000 DN làm ăn thua lỗ, giải thể, phá sản trong 9 tháng đầu năm 2011. Cũng thời gian đó, tại một số cuộc họp của ngành thuế, cơ quan này đưa ra số lượng DN hiện đang đóng thuế chỉ trên 400.000 trong số hơn 600.000 DN từng được cấp đăng ký kinh doanh. Mới đây nhất, Báo cáo thường niên DN Việt Nam 2011 đưa ra con số 79.000 DN giải thể tính đến ngày 31/12/2011.
Ở địa phương, trong 2 tháng đầu năm 2012, Cục Thuế TP. HCM công bố có tới hơn 3.100 DN xin giải thể, ngừng kinh doanh hoặc tạm ngừng kinh doanh. Còn Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. HCM cho biết, có 327 DN giải thể.
Những số liệu trên khiến dư luận giật mình bởi số lượng DN thua lỗ, phá sản, giải thể quá lớn nhưng lại không phân định số lượng từng loại, trong khi thủ tục phá sản một DN không hề đơn giản. Tuy nhiên, nhìn lại những con số trên, số liệu hơn 400.000 DN hiện vẫn đang đóng thuế mà Tổng cục Thuế đưa ra có thể xem là con số chính xác nhất về số DN vẫn đang “sống”, tức là có hoạt động kinh doanh, có đóng thuế. Khoảng 200.000 DN còn lại thuộc diện phá sản, giải thể, ngừng hoạt động, tạm ngừng hoạt động, thậm chí không loại trừ một số DN bị ngành thuế xếp vào diện… bỏ trốn.
Trong số hơn 200.000 DN này có 79.000 DN đã giải thể theo thủ tục giải thể mà Luật DN quy định và cơ quan có thẩm quyền giải quyết là các sở kế hoạch và đầu tư. Hơn 120.000 DN còn lại, hiện, chưa rõ sống, chết hay nói cách khác là chưa có cơ quan chức năng nào có số liệu thống kê chính xác tình trạng hoạt động. Trong đó, có DN có hồ sơ phá sản tại tòa án, có DN có đơn xin tạm ngừng hoạt động ra cơ quan thuế, song cũng có rất nhiều DN tự ngừng hoạt động mà không làm bất cứ thủ tục nào.
Riêng đối với diện phá sản, theo quy định hiện nay, cơ quan duy nhất có thể tuyên bố phá sản một DN là tòa án và thủ tục sẽ theo Luật Phá sản. Theo ông Phạm Tuấn Anh, Chánh Tòa Kinh tế TAND TP. Hà Nội, hiện TAND TP. Hà Nội đang thụ lý hơn 20 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và chỉ có một vài DN đã bị tòa này tuyên bố phá sản. Dù chưa có con số thống kê của cả nước, song có thể thấy, số lượng DN bị/được tuyên bố phá sản là rất ít.
Theo Luật sư Trần Minh Hải, Công ty Luật Ngân hàng - Chứng khoán - Đầu tư, thông thường, chỉ khi nào DN rơi vào tình trạng “ung thư giai đoạn cuối” thì mới xin/yêu cầu phá sản. Đến nay, đa số hồ sơ phá sản không thể giải quyết được và nhiều công ty “sống thực vật”, thực sự đã chết nhưng không thể “chôn”, mà điển hình là trường hợp CTCP Dược Viễn Đông (DVD). Dù có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, giám đốc đi tù, DVD đến nay vẫn chưa được tuyên bố phá sản.
Thẩm phán Nguyễn Huyền Cường, TAND TP. Hà Nội cho biết, “hòn đá tảng” ngáng chân Luật Phá sản đi vào cuộc sống nằm ngay ở điều khoản mấu chốt nhất. Điều 3 Luật Phá sản quy định: “DN không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản". Đây là điều khoản quan trọng để nhận diện DN rơi vào tình trạng phá sản. Song không phải cứ có nợ quá hạn là DN phá sản bởi thực tế, DN nào cũng vừa là con nợ, vừa là chủ nợ, thậm chí DN bị yêu cầu tuyên bố phá sản có thể là chủ nợ với số tiền lớn hơn số nợ quá hạn mà họ phải trả.
“Khi Tòa án xác minh, nhiều DN cho biết, nếu nợ quá hạn đã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản thì họ cũng yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN đang là con nợ của họ. Nhưng đến nay, chưa có hướng dẫn nào để tòa án có hướng xử lý trường hợp như vậy”, Thẩm phán Cường cho biết.
Cũng theo ông Cường, sau khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tòa án sẽ xem xét, xác minh, nếu thực sự DN lâm vào tình trạng phá sản, tòa sẽ tuyên bố mở thủ tục phá sản, nếu không, tòa trả lại đơn. Trong số điều khoản trả lại đơn có quy định: “có căn cứ rõ ràng cho thấy việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không khách quan, gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của DN”. Đây là điều khoản chung chung, mơ hồ và rất cảm tính. Hơn nữa, điều khoản này vô tình triệt tiêu ngay điều khoản nhận diện DN lâm vào tình trạng phá sản, bởi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đương nhiên ảnh hưởng xấu tới uy tín, hoạt động kinh doanh của DN.
Quá trình xác minh thực sự DN có lâm vào tình trạng phá sản hay không đòi hỏi người nộp đơn và DN phải cung cấp cho tòa án nhiều loại giấy tờ, báo cáo như báo cáo tình hình hoạt động giải trình nguyên nhân mất khả năng thanh toán, báo cáo về các biện pháp khắc phục, bảng kê chi tiết tài sản, danh sách chủ nợ, người mắc nợ ghi rõ tên, địa chỉ, ngân hàng chủ nợ mở tài khoản… Tuy nhiên, nếu DN không cung cấp thì tòa án cũng không thể làm gì vì chưa có quy định, chế tài đủ mạnh buộc DN phải tuân thủ.
Nói như vậy để thấy, việc phá sản một DN không đơn giản và cơ quan chức năng cần phải có sự phân định rõ ràng về số lượng DN thuộc từng loại: phá sản, giải thể, ngừng hoạt động, tạm ngừng hoạt động, để tránh tác động tâm lý tới thị trường.
| Ông Phạm Tuấn Anh, Chánh tòa Kinh tế, TAND TP. Hà Nội:
Hiện nay, đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì nhiều, song số lượng DN bị tuyên phá sản rất ít. Theo tôi, Luật Phá sản cần sớm sửa đổi, không sửa đổi thì dẫn đến tình trạng tồn đọng án cũ không xử lý được.
Sửa đổi Luật Phá sản để có thể khai tử DN yếu kém sẽ giúp làm môi trường kinh doanh lành mạnh hơn, tránh tình trạng lợi dụng tư cách pháp nhân để lừa đảo, vi phạm pháp luật. Hơn nữa, cơ quan khai sinh DN là các sở kế hoạch và đầu tư cũng cần phải có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu xét thấy DN không còn hoạt động nữa. |