Vật liệu xây dựng xanh, xu thế phát triển bền vững

Vật liệu xây dựng xanh, xu thế phát triển bền vững

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Trong khuôn khổ sự kiện, đại diện cơ quan quản lý, giới chuyên gia và doanh nghiệp đã cùng thảo luận về các vấn đề xoay quanh vật liệu xây dựng (VLXD) xanh trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Theo ông Nguyễn Văn Sinh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, ngành xây dựng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện hơn khi nền kinh tế chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải carbon thấp. Trong đó, ngành vật liệu xây dựng có vị trí đặc biệt quan trọng bởi là ngành cung cấp đầu vào phục vụ phát triển hạ tầng, đô thị, nhà ở, công nghiệp… Xanh hoá ngành vật liệu không chỉ là xu hướng mà trở thành yêu cầu cấp thiết để phát triển.

Chia sẻ tại hội thảo, ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng cho biết, Việt Nam đang khuyến khích vật liệu mới, vật liệu thông minh, vật liệu phát thải thấp, vật liệu phù hợp vùng ven biển, hải đảo; đồng thời, tăng cường quản lý chất lượng, sử dụng chất thải trong sản xuất vật liệu xây dựng và tổ chức thực hiện.

Ngành vật liệu xây dựng cần chuyển từ mô hình phát triển dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, lao động và mở rộng công suất sang mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào công nghệ, quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo, tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, kinh tế tuần hoàn, phát thải thấp và nâng cao giá trị gia tăng. Quý IV/2026 dự kiến ban hành thông tư dán nhãn năng lượng cho VLXD, đây sẽ là giấy thông hành để thực hiện VLXD xanh.

Hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh, xu thế phát triển bền vững” diễn ra chiều 5/5/2026 tại Hà Nội, sự kiện do Báo Xây dựng tổ chức.

Hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh, xu thế phát triển bền vững” diễn ra chiều 5/5/2026 tại Hà Nội, sự kiện do Báo Xây dựng tổ chức.

Ông Kế nhấn mạnh thêm, từ nay đến năm 2030 và xa hơn là đến năm 2045, ngành VLXD phải chuyển mình từ một ngành sản xuất truyền thống sang một ngành sản xuất hiện đại, xanh, thông minh, có năng lực cạnh tranh cao, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Để làm được điều đó, điều kiện tiên quyết là tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng vẫn siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong quản lý tài nguyên, môi trường, chất lượng và thị trường, sản phẩm.

Trong khi đó, PGS. TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội lại cho rằng, Việt Nam đang đối mặt với lượng chất thải rắn xây dựng gia tăng nhanh chóng, chiếm khoảng 10-12% tổng chất thải đô thị (khoảng 60.000 tấn/ngày), thậm chí lên đến 20 - 25% tại các đô thị lớn. Khối lượng chất thải rắn xây dựng tăng từ 1,9 triệu tấn (năm 2010) lên khoảng 9,6 triệu tấn (năm 2025). Thành phần chủ yếu gồm bê tông, gạch, vữa, đất và bùn thải (70 - 90%), cho thấy tiềm năng lớn trong tái chế và tái sử dụng làm VLXD. Tuy nhiên, thị trường còn tâm lý e ngại, ưu tiên vật liệu truyền thống, trong khi công nghệ sản xuất còn hạn chế và thiếu cơ chế hỗ trợ kinh tế hiệu quả. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các bên liên quan vẫn chưa chặt chẽ.

Theo ông Ân, Nhà nước cần tăng cường giám sát thực thi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ, phát triển hệ thống phân loại và chuỗi cung ứng vật liệu tái chế. Đồng thời, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hợp tác công - tư và nâng cao nhận thức xã hội.

Bên cạnh đó, việc sử dụng vật liệu thay thế như cát nhiễm mặn kết hợp tro bay, nước mặn và cốt sợi GFRP cho công trình ven biển là hướng đi triển vọng, giúp giảm khai thác cát tự nhiên và tận dụng phế thải công nghiệp.

Về giải pháp thúc đẩy phát triển vật liệu xanh, theo bà Nguyễn Thị Tâm, Giám đốc Trung tâm Môi trường & Cơ khí xây dựng, Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), giải pháp và chiến lược cần thiết là hoàn thiện các tiêu chuẩn, xây dựng chính sách hỗ trợ và khuyến khích sử dụng vật liệu tái chế và tái tạo. Xây dựng các công cụ quản lý, chính sách hỗ trợ phát triển vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu tái chế, vật liệu mới. Xây dựng hạ tầng tái chế chất thải, hạ tầng kiểm soát chất lượng sản phẩm. Xây dựng cơ sở dữ liệu về vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu tái chế, vật liệu mới để nhà sản xuất, người tiêu dùng lựa chọn cho phù hợp.

Là doanh nghiệp đi theo mảng thị trường ngách, cung cấp giải pháp công nghệ mái chống thiên tai vào thực tiễn xây dựng, ông Dương Ngọc Mười, Trưởng bộ phận kinh doanh số 1 Gantan Beauty Industry (Nhật Bản) tại Việt Nam cho hay, điểm khác biệt của doanh nghiệp không nằm ở từng sản phẩm riêng lẻ, mà ở giải pháp tổng thể.

Gantan không chỉ cung cấp mái, mà cung cấp một hệ giải pháp đồng bộ, kết hợp vật liệu có khả năng chịu gió mạnh, độ bền cao và hạn chế truyền nhiệt, nhằm đảm bảo hiệu quả thực tế cho công trình. Theo thử nghiệm, hệ mái này có thể chịu vận tốc gió trên 90m/giây, tương đương siêu bão trên cấp 17 theo phân loại tại Việt Nam. Bên cạnh đó, công nghệ không vít giúp mái co giãn theo nhiệt độ mà không gây giãn lỗ, tăng độ bền lâu dài. Hệ thống cách nhiệt và thông gió cũng được tối ưu, giúp giảm đáng kể lượng nhiệt truyền vào công trình, qua đó tiết kiệm năng lượng vận hành.

Tin bài liên quan