Bổ sung công nghệ đường sắt cao tốc vào nhóm 10 công nghệ chiến lược quốc gia

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Chính phủ vừa điều chỉnh Danh mục công nghệ chiến lược quốc gia của Việt Nam từ 11 nhóm xuống còn 10 nhóm, trong đó, bổ sung thêm nhóm công nghệ đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.
Phối cảnh tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc Nam dự kiến sẽ hoàn thành năm 2035

Phối cảnh tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc Nam dự kiến sẽ hoàn thành năm 2035

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia.

Đây được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm bám sát yêu cầu phát triển hạ tầng chiến lược, hình thành các ngành công nghiệp mới và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026 và thay thế Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ.

Công nghệ đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị là công nghệ chiến lược quốc gia

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), một trong những nội dung đáng chú ý của quyết định lần này là việc đồng thời tái cấu trúc các nhóm công nghệ số theo hướng tích hợp hơn.

Cụ thể, các nhóm công nghệ số trước đây được lược bỏ và chuyển thành nhóm “Công nghệ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây”, nhằm phản ánh xu hướng hội tụ công nghệ và yêu cầu tập trung vào các nền tảng số có tính dẫn dắt cao trong kỷ nguyên chuyển đổi số.

Đáng chú ý, công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị được đưa vào danh mục công nghệ chiến lược quốc gia. Theo Bộ này, đây là công nghệ đáp ứng rất rõ các tiêu chí quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Công nghệ cao năm 2025, bởi gắn với một không gian hạ tầng chiến lược quốc gia rất lớn, có khả năng tạo tác động lan tỏa mạnh tới nhiều ngành kinh tế và hình thành năng lực công nghiệp mới của Việt Nam.

Theo định hướng của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đây là loại công nghệ đặc biệt phù hợp với yêu cầu hình thành ngành công nghiệp mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tăng cường tự chủ ở các lĩnh vực hạ tầng then chốt.

Không chỉ là công nghệ giao thông đơn thuần, công nghệ đường sắt tốc độ cao được nhìn nhận là một cụm công nghệ tích hợp bao gồm hạ tầng, vật liệu, xây dựng, thông tin tín hiệu, điện - sức kéo, điều khiển, phương tiện và bảo trì vận hành.

Nền tảng thực tiễn cho việc đưa công nghệ này vào danh mục chiến lược được củng cố mạnh mẽ sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam.

Theo Nghị quyết, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có chiều dài khoảng 1.541 km, tốc độ thiết kế 350 km/h, với sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 1,713 triệu tỷ đồng. Quy mô đặc biệt lớn của dự án không chỉ tạo ra nhu cầu đầu tư hạ tầng mà còn mở ra không gian thị trường và học hỏi công nghệ đủ lớn để hình thành năng lực công nghiệp mới.

Bộ KH&CN đánh giá, quy mô này sẽ giúp công nghệ đường sắt tốc độ cao trở thành một trục công nghệ chiến lược thực sự, thay vì chỉ là một nhánh công nghệ nhập khẩu phục vụ thi công dự án.

Trong khi đó, Bộ Xây dựng cũng chỉ rõ Việt Nam hiện chưa có kinh nghiệm trong thiết kế, xây dựng, chế tạo cấu kiện, thiết bị cũng như tổ chức vận hành – bảo trì đường sắt tốc độ cao với yêu cầu kỹ thuật và độ chính xác cao. Vì vậy, việc từng bước làm chủ công nghệ, giảm dần phụ thuộc vào tư vấn, công nghệ và nhà thầu nước ngoài là yêu cầu cấp thiết.

Đây được xem là cơ sở quan trọng để xếp công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục chiến lược theo đúng định hướng làm chủ công nghệ trong các lĩnh vực then chốt.

Ở góc độ kỹ thuật, việc bổ sung nhóm công nghệ này cũng giúp danh mục mới bám sát hơn với thực tiễn phát triển hạ tầng và mục tiêu công nghiệp hóa gắn với các dự án quốc gia quy mô lớn. Trước đó, Quyết định số 1131/QĐ-TTg chưa có nhóm công nghệ nào phản ánh trực tiếp trục công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Việt Nam xác lập 10 nhóm công nghệ chiến lược

Theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, Việt Nam xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược gồm: Công nghệ số; mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến; chip bán dẫn; an ninh mạng và lượng tử; công nghệ biển, đại dương và lòng đất; hàng không vũ trụ; đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược cũng cho thấy định hướng ưu tiên mạnh mẽ vào các công nghệ lõi đang cạnh tranh toàn cầu như mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, AI chuyên ngành, chip chuyên dụng, robot công nghiệp, nền tảng điện toán đám mây, hệ thống an ninh mạng, công nghệ lượng tử và vệ tinh quỹ đạo thấp.

Bên cạnh đó, nhiều lĩnh vực công nghệ mới có tính dẫn dắt tương lai như hydrogen xanh, hệ thống lưu trữ năng lượng BESS, thu giữ carbon, lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR), công nghệ biển sâu và chế biến sâu đất hiếm cũng được đưa vào danh mục ưu tiên phát triển.

Theo Bộ KH&CN, việc ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai đồng bộ các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, đầu tư công, tài trợ, đặt hàng cũng như huy động nguồn lực xã hội cho phát triển công nghệ chiến lược.

Bộ KH&CN sẽ chủ trì rà soát, đánh giá định kỳ và tham mưu cập nhật danh mục công nghệ chiến lược phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.

Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng đã xây dựng danh mục công nghệ chiến lược nhằm bảo đảm an ninh công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Hoa Kỳ đã ban hành Danh mục công nghệ trọng yếu và mới nổi (Critical and Emerging Technologies) từ tháng 2/2020, gắn với mục tiêu bảo đảm an ninh, chủ quyền và duy trì vị thế dẫn dắt công nghệ toàn cầu; danh mục được cập nhật định kỳ 2 năm/lần.

Tham khảo kinh nghiệm từ Hoa Kỳ, Hàn Quốc công bố Danh mục công nghệ chiến lược quốc gia gồm 12 công nghệ và 50 sản phẩm công nghệ chiến lược vào tháng 8/2022, đồng thời cập nhật định kỳ 2 năm/lần. Mục tiêu của Hàn Quốc là tăng cường chuỗi cung ứng, tạo lập ngành công nghiệp mới, bảo đảm an ninh quốc gia và phục vụ ngoại giao chiến lược.

Đáng chú ý, tháng 3/2023, Hàn Quốc ban hành Luật đặc biệt về công nghệ chiến lược và sau đó triển khai Chương trình phát triển công nghệ chiến lược quốc gia giai đoạn 2024-2028 với tổng kinh phí lên tới 23 tỷ USD.

Việc Việt Nam ban hành danh mục công nghệ chiến lược mới được kỳ vọng sẽ mở ra dư địa lớn để thúc đẩy hình thành các ngành công nghiệp nền tảng, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.

Tin bài liên quan