GS-TS. Trần Thọ Đạt, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia
Theo GS-TS. Trần Thọ Đạt, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia, đà tăng trưởng GDP đang tạo điều kiện để hoàn thành mục tiêu của cả nhiệm kỳ 2026-2030, song cần có cái nhìn sâu sắc hơn về chất lượng tăng trưởng.
Báo cáo của Chính phủ cho thấy tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm đạt nhiều kết quả tích cực, từ sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, đến kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng 2 con số cả năm đang được đặt ra, ông đánh giá thế nào về những kết quả này và khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng?
Trước hết, cần ghi nhận những kết quả tích cực rõ nét của nền kinh tế trong 9 tháng đầu năm. GDP quý III tăng 9,95%, cao hơn nhiều so với mức 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Tính chung cả 9 tháng, GDP tăng trên 9%, cho thấy đà tăng trưởng được củng cố và gia tăng qua từng quý, mặc dù kinh tế thế giới vẫn còn nhiều bất định.
Đáng chú ý, ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chủ đạo của nền kinh tế với mức tăng trưởng 11,21%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì vai trò đầu tàu; tiêu dùng nội địa, vận tải và du lịch cũng có những chuyển biến tích cực. Những kết quả này tạo nền tảng thuận lợi để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong những tháng cuối năm.
Tuy vậy, chúng ta cần nhìn nhận thận trọng rằng, tăng trưởng cao trong 9 tháng đầu năm chưa đồng nghĩa với việc mục tiêu tăng trưởng cả năm đã chắc chắn đạt được. Theo số liệu và các kịch bản được công bố, mức tăng trưởng thực tế vẫn thấp hơn so với kịch bản đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Điều này cho thấy những áp lực và thách thức phía trước vẫn còn rất lớn.
Những áp lực và thách thức đó là gì, thưa ông?
Theo tôi, cần phân tích kết quả tăng trưởng trên hai phương diện chính.
Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng, thể hiện quy mô và mức độ mở rộng của hoạt động kinh tế.
Thứ hai là chất lượng tăng trưởng, yếu tố quan trọng không kém: động lực nào đang thúc đẩy tăng trưởng, năng suất được cải thiện ra sao và giá trị thực tế được giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam như thế nào.
Chỉ nhìn vào quy mô GDP, bức tranh kinh tế có thể khá sáng sủa. Tuy nhiên, phía sau đó vẫn còn nhiều vấn đề cần phân tích kỹ hơn, như sự phụ thuộc đáng kể vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khả năng lan tỏa công nghệ và kinh nghiệm từ khu vực này sang các doanh nghiệp trong nước, cũng như mức độ gia tăng giá trị nội địa trong chuỗi giá trị sản xuất.
Theo tôi, thách thức lớn nhất không chỉ là làm sao đạt được tăng trưởng cao trong một năm, mà là xây dựng nền tảng bền vững để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tiếp theo. Tăng trưởng phải đi đôi với năng lực sản xuất được nâng lên, ứng dụng công nghệ hiện đại hơn, doanh nghiệp nội địa mạnh hơn và năng suất lao động được cải thiện một cách bền vững.
![]() |
Lĩnh vực xuất khẩu đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế trong năm 2026 và những năm tiếp theo. Ảnh: Lê Toàn |
Từ kết quả 9 tháng đầu năm, theo ông, đâu là những điểm nghẽn có thể ảnh hưởng đến việc đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong 3 tháng cuối năm?
Điểm thuận lợi đầu tiên là nền kinh tế có sự đồng thuận tương đối giữa các động lực tăng trưởng: công nghiệp phục hồi mạnh mẽ, dịch vụ tiếp tục mở rộng, đầu tư tăng lên và hoạt động xuất nhập khẩu giữ được quy mô lớn. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng trên 15%, vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng hơn 12%. Đây là những nguồn lực quan trọng để mở rộng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng.
Thị trường nội địa cũng đóng vai trò đáng kể. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 9 tháng tăng 13,4% theo giá hiện hành; nếu loại bỏ yếu tố giá thì mức tăng vẫn đạt 7,8%. Điều này cho thấy sức cầu nội địa tiếp tục được cải thiện, góp phần giảm bớt sự phụ thuộc vào động lực bên ngoài.
Tuy nhiên, những khó khăn không thể xem nhẹ. Kinh tế toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi xung đột địa chính trị, biến động nguồn cung năng lượng, chi phí vận tải tăng và xu hướng điều chỉnh chính sách thương mại tại các nền kinh tế lớn. Những yếu tố này có thể tác động trực tiếp đến đơn hàng xuất khẩu, chi phí sản xuất và khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp Việt Nam. Ở trong nước, áp lực lạm phát, biến động tỷ giá và chi phí vốn đòi hỏi chính sách điều hành phải rất thận trọng.
Chỉ còn một quý để hoàn thành mục tiêu cả năm, theo ông, chính sách điều hành cần tập trung vào những ưu tiên nào để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô?
Tôi cho rằng, cần cân bằng hài hòa giữa các giải pháp ngắn hạn nhằm tạo động lực ngay trong quý IV và các cải cách mang tính dài hạn, bền vững. Điều quan trọng là không nên sử dụng các công cụ kích thích một cách thiếu chọn lọc chỉ vì áp lực đạt mục tiêu tăng trưởng.
Ưu tiên hàng đầu là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân. Nếu tăng trưởng cao đi kèm lạm phát gia tăng, biến động tỷ giá mạnh, nợ xấu tăng hoặc hình thành bong bóng tài sản thì những thành quả đạt được khó có thể bền vững. Trong điều hành tiền tệ, cần cân đối giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Dư địa nới lỏng tín dụng hiện không còn rộng như trước, vì vậy, mở rộng tín dụng không nên được xem là giải pháp giải quyết mọi khó khăn. Điều cần làm là nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung hướng vốn vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.
Ưu tiên thứ hai là đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, nhưng phải gắn liền với hiệu quả thực chất. Đầu tư công có thể tạo sức lan tỏa lớn thông qua phát triển hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và các công trình kết nối vùng. Tuy nhiên, vốn đầu tư chỉ thực sự tạo ra tăng trưởng bền vững khi công trình được hoàn thành, đưa vào khai thác và góp phần giảm chi phí cho nền kinh tế.
Ưu tiên thứ ba là củng cố thị trường nội địa và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ cần tập trung tháo gỡ rào cản về thủ tục, tiếp cận vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất và thị trường; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải tổ quản trị và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tôi cũng cho rằng, chính sách tài khóa cần phát huy tốt hơn vai trò của mình, không chỉ nhằm hỗ trợ tổng cầu trước mắt, mà còn góp phần xây dựng nền tảng cho tăng trưởng dài hạn thông qua đầu tư vào hạ tầng cơ sở, giáo dục, khoa học và công nghệ, cùng các lĩnh vực giúp nâng cao năng suất lao động.
Cuối cùng, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, minh bạch và gắn với trách nhiệm giải trình. Ở giai đoạn nước rút, điều quan trọng không chỉ là ban hành thêm chính sách, mà còn phải xác định rõ những việc cần làm ngay, cơ quan chịu trách nhiệm, cách phân bổ nguồn lực và tiêu chí đánh giá kết quả cụ thể.
Tại Kỳ họp thứ 2, các đại biểu sẽ thảo luận Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. Theo ông, đâu là những vấn đề cần tập trung thảo luận và giám sát để mục tiêu tăng trưởng cao chuyển thành kết quả thực chất?
Theo tôi, có ba nhóm vấn đề cần được quan tâm.
Thứ nhất, đánh giá đồng thời tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh GDP, cần chú trọng các chỉ tiêu như năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, mức độ lan tỏa công nghệ từ FDI và giá trị gia tăng nội địa. Những chỉ tiêu này giúp phản ánh rõ hơn sức khỏe thực chất của nền kinh tế, thay vì chỉ nhìn vào quy mô sản xuất hoặc kim ngạch thương mại.
Thứ hai, chất lượng thực thi chính sách. Định hướng lớn đã có về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tư nhân. Vấn đề mấu chốt là các chủ trương đó được cụ thể hóa ra sao, điểm nghẽn thủ tục được tháo gỡ đến mức nào, trách nhiệm của từng cơ quan được xác định rõ ràng hay chưa. Quốc hội có thể tập trung giám sát hiệu quả giải ngân đầu tư công, tiến độ dự án hạ tầng chiến lược, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính và việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ. Cần tránh ban hành nhiều chính sách nhưng kết quả đầu ra không rõ ràng.
Thứ ba, xây dựng nền tảng cho giai đoạn phát triển 2027-2030. Năm 2026 cần được xem là thời điểm quan trọng để tháo gỡ các nút thắt cấu trúc, tạo điều kiện cho nền kinh tế chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và năng lực nội sinh. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo phát triển, đầu tư vào hạ tầng nền tảng, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy giáo dục và đào tạo, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, Nhà nước không thể làm thay thị trường, cũng không thể thay doanh nghiệp quyết định mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều quan trọng là tạo môi trường để doanh nghiệp có động lực đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh.
