Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà phát biểu tại Tọa đàm
Ngành ngân hàng chịu nhiều áp lực về cung ứng vốn
Sáng 8/5/2026, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”. Trong bối cảnh Quốc hội, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên cho năm 2026, áp lực đặt lên vai Ngân hàng Nhà nước (NHNN) rất nặng nề.
Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, với chức năng là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng có trách nhiệm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng; hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng; đồng thời góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Tuy vậy, Thống đốc cũng thẳng thắn nhìn nhận, bối cảnh hiện nay còn không ít khó khăn, thách thức.
"Nhu cầu vốn cho nền kinh tế là rất lớn, nhưng khả năng hấp thụ vốn của một số khu vực, lĩnh vực còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng. Việc mở rộng tín dụng phải gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống. Cùng với đó, kinh tế, thương mại, tài chính toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, khó lường, tạo thêm sức ép cho công tác điều hành", Phó Thống đốc cho biết.
Năm 2025 được kỳ vọng là giai đoạn kinh tế thế giới phục hồi khi lạm phát hạ nhiệt, các ngân hàng trung ương có xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ (năm 2025 có khoảng 130 lượt hạ lãi suất trên toàn cầu). Tuy nhiên, bước sang năm 2026, cục diện nhanh chóng thay đổi sau khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát từ cuối tháng 2/2026. Đây là biến động mà không một ngân hàng trung ương hay tổ chức kinh tế nào có thể lường trước, làm gia tăng đáng kể áp lực lạm phát toàn cầu cũng như khiến triển vọng kinh tế thế giới trở nên bất định hơn.
“Những dự tính, dự báo cuối năm 2025 cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030 đều phải được cân nhắc và đánh giá lại một cách thận trọng”, TS. Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính nhận định.
Bối cảnh mới đang đặt ra nhiều sức ép lớn đối với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế. Theo TS. Nguyễn Phi Lân, nhiều tổ chức quốc tế hiện dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 chỉ dao động từ 5,3-7,6%. Trong khi đó, mục tiêu mà Việt Nam đặt ra là tăng trưởng hai con số, đòi hỏi phải có các giải pháp “khác biệt”, tận dụng tốt cơ hội và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay theo TS. Nguyễn Phi Lân, áp lực lạm phát đang gia tăng rõ nét trong năm 2026 dưới tác động của xung đột Trung Đông khiến giá dầu và giá nhiên liệu thế giới tăng mạnh. Ông cho biết lạm phát tháng 4/2026 đã tăng hơn 5% so với cùng kỳ năm trước, trong khi IMF cũng dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên tới 4,9%, vượt mục tiêu 4,5% do Quốc hội đề ra. Giá năng lượng leo thang không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất, vận tải mà còn tác động tới giá nhiều mặt hàng trong nước, đặc biệt là vật liệu xây dựng, từ đó tạo áp lực lớn lên kỳ vọng lạm phát và công tác điều hành chính sách tiền tệ.
Ngoài lạm phát, TS. Nguyễn Phi Lân cho biết Việt Nam hiện cũng đang đối mặt nguy cơ nhập siêu trở lại sau nhiều năm duy trì xuất siêu. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế đã bắt đầu xuất hiện xu hướng nhập siêu. Nếu năm 2025 cán cân thương mại vẫn ở trạng thái thặng dư thì sang năm 2026 có thể chỉ còn cân bằng hoặc thậm chí chuyển sang mất cân bằng nếu tình hình xấu hơn.
Điều này kéo theo áp lực lớn đối với tỷ giá, trong bối cảnh NHNN đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, hỗ trợ giảm lãi suất và ổn định thị trường ngoại hối.
“Đây là thách thức rất lớn đối với NHTW không chỉ trong năm 2026 mà cả giai đoạn 2026-2030”, ông Nguyễn Phi Lân nhấn mạnh.
Trong bối cảnh hiện nay, NHNN khẳng định, ưu tiên lớn nhất của ngành Ngân hàng là giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Muốn đạt tăng trưởng cao, trước hết phải duy trì được các cân đối lớn của nền kinh tế. Nếu không kiểm soát tốt lạm phát thì tăng trưởng dù cao cũng khó tạo ra giá trị gia tăng thực chất.
Dư địa chính sách tiền tệ hiện nay không còn nhiều, vì vậy để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế TS. Lân cho rằng cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa. Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng sẽ tập trung điều hành thanh khoản phù hợp, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và hỗ trợ nền kinh tế.
“Thanh khoản là yếu tố căn cơ và quan trọng nhất đối với hệ thống ngân hàng. Chỉ khi đảm bảo thanh khoản thì hệ thống mới có thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác”, TS. Nguyễn Phi Lân nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa cùng các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô khác rất cần thiết nhằm vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo dư địa cho tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
![]() |
Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế |
Tín dụng tăng 4,42%, huy động vốn "chênh" 2 triệu tỷ đồng với cho vay
Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025; tăng 18,26% so với cùng kỳ năm 2025. Cơ cấu tín dụng tương đối phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế, tín dụng ngành nông nghiệp chiếm khoảng 6%, công nghiệp, xây dựng chiếm 23,5%, dịch vụ chiếm 70,5%.
Tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên được quan tâm theo đúng định hướng, trong đó một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn như lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (đạt 4,3 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 22,2%) và doanh nghiệp nhỏ và vừa (đạt gần 3,8 triệu tỷ đồng chiếm khoảng 20%); tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có tốc độ tăng trưởng cao (quý 1/2026 tăng lần lượt là 11,2% và 18,81%).
Đối với lĩnh vực xanh, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 780 nghìn tỷ đồng; dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 5,1 triệu tỷ đồng, qua đó góp phần thực hiện chủ trương hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường khi thực hiện các dự án và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững;
"Cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đã cung cấp nguồn tài chính thiết yếu để triển khai nhiều dự án, công trình trọng điểm (một số dự án được cam kết đầu tư tín dụng lớn lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng), góp phần thực hiện một trong 3 đột phá chiến lược của Đảng về phát triển hạ tầng", bà Tùng nhận định.
Bên cạnh kết quả đạt được, bà Tùng cũng chỉ ra hoạt động tín dụng ngân hàng còn gặp một số khó khăn, thách thức. Cụ thể, áp lực từ bên ngoài, gián đoạn nguồn cung, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự, giá năng lượng và chi phí vận tải leo thang... Bên cạnh đó, nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng (tín dụng/GDP năm 2025 khoảng 145%), trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng; rủi ro kỳ hạn do vốn huy động VND chủ yếu là ngắn hạn (chiếm 80%), song nhu cầu vốn trung, dài hạn lớn tiềm ẩn rủi ro với các TCTD trong việc cân đối đảm bảo an toàn hệ thống. Áp lực thứ ba đối với hệ thống ngân hàng hiện nay là việc huy động và cân đối nguồn lực để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Theo bà Tùng, số liệu tính toán của Bộ Tài chính cho thấy nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2031 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng; riêng năm 2026 vào khoảng 5,1 triệu tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn tín dụng dự kiến khoảng 1,8 triệu tỷ đồng. Con số này vẫn nằm trong định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% mà NHNN đặt ra. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là các TCTD sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn lực để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng nói trên.
Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụngg, quy mô huy động vốn bằng VNĐ đang thấp hơn quy mô tín dụng khoảng 2 triệu tỷ đồng.. Điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng đang vượt khả năng huy động vốn của các TCTD. Đây cũng là nguyên nhân khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, đối với hoạt động tín dụng theo ngành, lĩnh vực, qua theo dõi việc triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, có thể thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Đơn cử, việc mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều thách thức. Nguyên nhân chủ yếu đến từ những hạn chế nội tại của doanh nghiệp như năng lực tài chính yếu, thiếu minh bạch thông tin tài chính và quản trị. Điều này khiến các tổ chức tín dụng khó mở rộng cho vay, đặc biệt với các khoản vay không có tài sản bảo đảm.
Cùng với đó, những tồn tại của thị trường bất động sản tiếp tục tạo áp lực đối với hệ thống ngân hàng. Nhiều dự án còn vướng mắc pháp lý; thông tin thị trường thiếu minh bạch; cơ sở dữ liệu chung chưa đầy đủ; chưa có bộ chỉ tiêu đánh giá rõ ràng để nhận diện trạng thái ổn định hay rủi ro “bong bóng” của thị trường. Những yếu tố này gây khó khăn cho công tác thẩm định, đánh giá khoản vay và làm gia tăng rủi ro tín dụng. Việc triển khai một số chương trình tín dụng trọng điểm còn chậm, điển hình là chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33 của Chính phủ. Dù đã triển khai trong khoảng hai năm, tiến độ giải ngân vẫn gặp khó khăn, chủ yếu do thiếu nguồn cung nhà ở xã hội. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải ngân của các ngân hàng, mặc dù nhiều TCTD đã cam kết nguồn vốn và NHNN cũng đã áp dụng mức lãi suất ưu đãi cho chương trình.
Theo Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong thời gian tới, NHNN và ngành Ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp tín dụng theo hướng chủ động, linh hoạt, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới.
Cụ thể, NHNN tiếp tục chủ động rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng, tín dụng ngành, lĩnh vực; Tích cực tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các Nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước như về tam nông, khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục, năng lượng, dự án, công trình trọng điểm…
Bên cạnh đó, NHNN điều hành và triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng, phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
NHNN cũng sẽ tổ chức triển khai, theo dõi và kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; triển khai các nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các Chương trình mục tiêu quốc gia; Tiếp tục theo dõi, đánh giá các hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực; ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, trong nước tới các ngành, lĩnh vực kinh tế để có giải pháp điều hành tín dụng phù hợp; kịp thời phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động tín dụng ngành, lĩnh vực.
