Lãi suất huy động tăng nóng, kéo theo chi phí vốn leo thang, tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp và nền kinh tế
Lãi suất tăng nóng, mức cao nhất đã lên đến 10%
Chỉ tính riêng trong tháng 3/2026, đã có khoảng 20 nhà băng tham gia cuộc đua tăng lãi suất huy động, thậm chí có nhà băng điều chỉnh lãi suất 4-5 lần. Theo đó, tính đến cuối tháng, lãi suất huy động cao nhất tại PVCombank đã lên tới 10%/năm; tại VikkiBank lên tới 9,2%/năm; tại GPBank là 9%/năm. Tại một số ngân hàng khác như NCB, VPBank, HDBank…, lãi suất huy động cao nhất cũng đang ở mức 8,9 - 8,95%/năm.
Nhóm ngân hàng TMCP quốc doanh (Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank) cũng phải tăng lãi suất huy động để cạnh tranh tiền gửi trong bối cảnh chênh lệch lãi suất huy động giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng TMCP tư nhân có sự chênh lệch lớn.
Cùng với lãi suất huy động, lãi suất cho vay cũng đang tăng nhanh. Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch HĐQT CTCP Bất động sản Toàn Cầu cho biết, trước đây doanh nghiệp vay với lãi suất 7-7,5%/năm, nhưng kể từ đầu quý II/2026 đã bị đẩy lên 11-12%/năm; lãi suất cho vay cá nhân mua nhà chạm ngưỡng 14-15%/năm. Không chỉ lãi suất cho vay tăng, việc tiếp cận tín dụng cũng rất khó khăn, khiến doanh nghiệp đứng trước rủi ro nợ xấu do dòng tiền tắc nghẽn.
“Mức lãi vay hiện nay khiến chi phí vốn trở thành bất khả thi đối với cả chủ đầu tư lẫn người mua nhà ở thực. Nếu không có các giải pháp can thiệp để hạ nhiệt lãi suất và khơi thông dòng vốn tín dụng, mục tiêu tăng trưởng vĩ mô sẽ gặp phải lực cản vô cùng lớn", ông Hiệp lo lắng.
Trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế cho rằng, lãi suất đang là một trong những rào cản lớn nhất đối với tăng trưởng hiện nay. “Nếu lãi suất không ổn định, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ gặp thách thức lớn”, TS. Lê Xuân Nghĩa khẳng định.
Theo các chuyên gia, có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này: nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và các dự án lớn gia tăng; tiền gửi phải cạnh tranh với các kênh tài sản khác; áp lực bán ròng của các nhà đầu tư nước ngoài… Chính sách siết chặt quản lý tài khoản để tính thuế đối với hộ kinh doanh và cá nhân cũng khiến một dòng tiền chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng.
“Các hộ kinh doanh chiếm tỷ lệ lớn trong tổng huy động tiền gửi của các ngân hàng. Việc nhóm khách hàng này đồng loạt rút tiền thời gian qua đã khiến thanh khoản hệ thống bị thiếu hụt”, TS. Lê Xuân Nghĩa phân tích.
Ngoài ra, chênh lệch lớn giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn cũng là nguyên nhân khiến các ngân hàng khan tiền. Tính đến cuối tháng 2/2026, tín dụng tăng 1,4%, trong khi huy động vốn chỉ tăng 0,36% so với cuối năm trước. Nhu cầu vốn cao trong khi huy động vốn tăng chậm khiến các nhà băng phải nâng lãi suất huy động.
Trước tình trạng lãi suất huy động tăng nhanh, đầu tuần này, NHNN đã có công văn yêu cầu các tổ chức tín dụng tập trung triển khai các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định thị trường tiền tệ. Thống đốc yêu cầu các nhà băng thực hiện nghiêm các quy định của NHNN về lãi suất (niêm yết lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền gửi tối đa…); tăng cường kiểm soát, kiểm tra nội bộ; chấn chỉnh và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm về lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn, bảo đảm thanh khoản và khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.
Ông Phan Lê Thành Long, CEO AFA Group cho rằng, chính sách tiền tệ trong nước đang chịu rất nhiều áp lực. Với sức ép từ lạm phát thế giới hiện nay, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ không còn nhiều và việc hạ lãi suất là rất khó. Hệ quả của lãi suất huy động tăng là lãi suất đầu ra tăng, tác động lớn đến cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vay vốn.
Ổn định lãi suất: Không thể bằng mệnh lệnh hành chính
Ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch HĐQT MB cho hay, để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số, ổn định kinh tế vĩ mô bền vững là yêu cầu bắt buộc, trong đó cốt lõi là ổn định lãi suất. Nếu không duy trì được mặt bằng chi phí tài chính thấp, doanh nghiệp sẽ không có động lực để mở rộng đầu tư.
Để hiện thực hóa mục tiêu giảm lãi suất cho vay và giảm gánh nặng chi phí tài chính cho doanh nghiệp, ông Lưu Trung Thái cho rằng cần kiểm soát chặt chẽ 3 yếu tố chính.
Thứ nhất là chi phí quản lý của các ngân hàng. Hiện nay, tỷ lệ chi phí quản lý trên tổng doanh thu (CIR) của những ngân hàng quản trị tốt chỉ ở mức khoảng 25%, trong khi có những đơn vị lên tới 50%. Nói cách khác, dư địa tối ưu hóa chi phí, từ đó giảm lãi suất của các ngân hàng vẫn còn.
Thứ hai, phải kiểm soát được lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Yếu tố này phụ thuộc trực tiếp vào tính thanh khoản và khả năng luân chuyển vốn thông suốt trong nền kinh tế. Khi dòng vốn được lưu thông thuận lợi, chi phí đầu vào của ngân hàng sẽ giảm xuống.
Thứ ba là kiểm soát chi phí rủi ro nợ xấu. Chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu hiện chiếm khoảng 18% đến 20% trong cơ cấu chi phí của ngành ngân hàng. Nếu năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng được nâng cao và ý thức tuân thủ kỷ luật tài chính của người đi vay được cải thiện, ngân hàng sẽ có thêm nguồn lực để kéo lãi suất cho vay xuống mức thấp hơn.
Một lãnh đạo ngân hàng khác kiến nghị, hiện đang có hơn 1 triệu tỷ đồng “kẹt” trong nợ xấu. Vì vậy, cần cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường (kể cả bán thấp hơn giá gốc) để giải phóng nguồn lực đang bị ách tắc. Khi nguồn lực này được khơi thông, áp lực vốn đối với các nhà băng cũng sẽ giảm bớt.
Một số chuyên gia nhận định, dù lãi suất tiết kiệm đang tăng nóng nhưng NHNN chưa có giải pháp can thiệp do cơ quan này đang dè chừng tỷ giá. Diễn biến căng thẳng tại Trung Đông khiến giá dầu và USD Index tăng cao, kéo theo tỷ giá trong nước đi lên (USD trên thị trường tự do đã vượt 28.000 đồng/USD). Việc duy trì mặt bằng lãi suất tiền đồng ở mức cao sẽ tạo chênh lệch lãi suất hợp lý giữa VND và USD, qua đó giảm áp lực mất giá của đồng nội tệ và giữ chân dòng vốn ngoại.
Với tình hình hiện nay, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất cao sẽ còn kéo dài ít nhất đến hết quý II/2026.
Về dài hạn, theo TS. Cấn Văn Lực, việc giải quyết bài toán luẩn quẩn này phải đặt trong bức tranh tổng thể các kênh huy động vốn. Nếu nền kinh tế vẫn phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, không khơi thông được các kênh dẫn vốn khác, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, thì áp lực lên lãi suất và tín dụng sẽ còn kéo dài.
Tán thành ý kiến này, TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường Đại học Kinh tế (ĐHQG Hà Nội) cho rằng, cần thay đổi cấu trúc nguồn vốn, đặc biệt là tăng tỷ trọng các nguồn vốn trung và dài hạn. “Tín dụng ngân hàng hiện nay vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn. Do đó, cần có sự chuyển dịch dòng vốn, từng bước chuyển từ việc phụ thuộc chủ yếu vào vốn vay ngân hàng sang phát triển mạnh hơn các kênh thị trường vốn, như thị trường trái phiếu và cổ phiếu”, ông Việt nói.
Trong khi đó, chia sẻ với Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Lê Xuân Nghĩa cho hay, việc hạ nhiệt lãi suất không phải là bất khả thi, song không thể thông qua giải pháp hành chính mà phải bằng công cụ thị trường, cụ thể là thông qua việc tăng cung tiền. Cụ thể, để giảm lãi suất, NHNN cần tăng lượng tiền bơm qua kênh OMO với lãi suất thấp. Khi đó, các ngân hàng thương mại thiếu hụt thanh khoản có thể tìm đến thị trường mở thay vì “đua” lãi suất huy động trên thị trường dân cư.
Thanh tra việc thực hiện chính sách lãi suất của các tổ chức tín dụng
Đầu tuần này, NHNN đã ban hành công văn về việc thực hiện các giải pháp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất. Theo đó, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng tập trung triển khai các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất; tăng cường kiểm soát, kiểm tra nội bộ; chấn chỉnh và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm về lãi suất; đồng thời cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn, bảo đảm thanh khoản và khả năng chi trả. NHNN khu vực phải tăng cường theo dõi, giám sát diễn biến lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trên địa bàn; tổ chức các đoàn kiểm tra, thanh tra định kỳ hoặc đột xuất đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh tổ chức tín dụng trong việc thực hiện các quy định về chính sách lãi suất.