Doanh nghiệp muốn vay vốn xanh: Điểm nghẽn nằm ở dữ liệu ESG

Doanh nghiệp muốn vay vốn xanh: Điểm nghẽn nằm ở dữ liệu ESG

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Nhu cầu đầu tư tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải đang gia tăng tại các nhà máy, nhưng khả năng tiếp cận tín dụng xanh vẫn là bài toán khó với nhiều doanh nghiệp. Thiếu dữ liệu đo lường, nhân sự chuyên trách và hồ sơ chứng minh tác động môi trường khiến không ít dự án chưa thể tiếp cận vốn ưu đãi.

Có dự án xanh chưa đủ, phải chứng minh được hiệu quả

Theo thông tin được GS.TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM chia sẻ tại hội thảo ESG Company Tour 2026 ngày 29/10, đến nay, tổng dư nợ tín dụng xanh của hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt khoảng 856.000 tỷ đồng. Con số này thể hiện sự quan tâm của ngành ngân hàng đối với lĩnh vực xanh, song để tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, doanh nghiệp cần đáp ứng những yêu cầu cụ thể về pháp lý, tài chính và tác động môi trường.

Ngân hàng xem xét cho vay dựa trên 4 điều kiện cơ bản, gồm hồ sơ pháp lý chuẩn, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, năng lực tài chính tốt và dự án khả thi, có hiệu quả cùng tài sản bảo đảm phù hợp. Với dự án xanh, doanh nghiệp còn phải chứng minh dự án thuộc danh mục phân loại theo quy định, đo lường được tác động tích cực đến môi trường thông qua kiểm toán độc lập, tuân thủ các tiêu chí ESG và có cơ sở để loại trừ nguy cơ “tẩy xanh”.

"Trong lĩnh vực sản xuất, các dự án có thể được xem xét theo những nhóm như cải thiện hiệu suất năng lượng, tự động hóa tiết kiệm điện; giảm phát thải, xử lý chất thải; hoặc phát triển năng lượng tái tạo", ông Trung nói và lưu ý thêm, việc doanh nghiệp đầu tư thiết bị tiết kiệm điện hay cải tiến dây chuyền chưa đồng nghĩa khoản đầu tư đó đương nhiên được công nhận là dự án xanh.

Hồ sơ dự án cần có các tài liệu chứng minh theo quy định, trong đó cần có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc giấy phép môi trường, văn bản xác nhận dự án xanh, báo cáo ESG đã công bố và báo cáo kiểm toán năng lượng độc lập. Các thông tin về mức tiêu thụ năng lượng, lượng phát thải trước và sau đầu tư cũng cần được đo lường, lượng hóa để làm căn cứ đánh giá.

Với trường hợp doanh nghiệp có dự án tự động hóa giúp giảm tiêu hao năng lượng, tăng năng suất nhưng chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu ESG, ông Trung cho biết ngân hàng về nguyên tắc chưa thể cấp tín dụng xanh ưu đãi nếu thiếu các hồ sơ và minh chứng cần thiết. Tuy vậy, nếu doanh nghiệp có năng lực tài chính và dòng tiền tốt, ngân hàng vẫn có thể xem xét cho vay thương mại thông thường, không áp dụng ưu đãi lãi suất xanh.

Điểm khác biệt này khá quan trọng với doanh nghiệp đang có nhu cầu đầu tư. Một dự án có hiệu quả kinh tế chưa chắc đã đủ điều kiện hưởng tín dụng xanh nếu chưa chứng minh được tác động môi trường theo yêu cầu. Doanh nghiệp vì thế cần chuẩn bị dữ liệu và hồ sơ ngay trong quá trình hình thành dự án, thay vì đợi đến khi hoàn tất đầu tư mới tìm cách chứng minh hiệu quả.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, bà Ngô Thị Thu Thủy, Chủ tịch HĐQT Fujiwa Việt Nam cho biết, các đơn vị sản xuất thường thiếu kiến thức về thủ tục, hồ sơ khi tiếp cận nguồn vốn xanh. Việc tham gia các hiệp hội giúp doanh nghiệp có thêm đầu mối hỗ trợ, nhưng bà cũng kiến nghị ngân hàng và cơ quan quản lý có cơ chế linh hoạt hơn về lãi suất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi dù chưa hoàn thiện đầy đủ chứng chỉ xanh.

Bà Thủy chia sẻ, trong 7 năm qua, Fujiwa khá dè dặt và chưa dám vay ngân hàng do lãi suất biến động khó lường. Với doanh nghiệp sản xuất, những dự án đầu tư nhà máy, công nghệ thường cần thời gian dài để phát huy hiệu quả, vì vậy sự ổn định của chi phí vốn có ý nghĩa lớn đối với quyết định đầu tư.

Doanh nghiệp cần phân kỳ đầu tư, chuẩn hóa dữ liệu từ sớm

Theo ông Trung, ba điểm nghẽn lớn nhất khiến doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng xanh hiện nay nằm ở dữ liệu, con người và tư duy thực hiện.

Thứ nhất là dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp chưa có hệ thống dữ liệu chuẩn hóa, chưa đo lường được mức phát thải hiện tại và lượng phát thải có thể giảm sau khi triển khai dự án. Khi thiếu các con số cụ thể, doanh nghiệp khó chứng minh hiệu quả môi trường, còn ngân hàng cũng thiếu căn cứ để thẩm định và xác nhận tính chất xanh của khoản đầu tư.

Thứ hai là nhân lực. Doanh nghiệp có thể thuê đối tác bên ngoài để triển khai chuyển đổi số, nhưng với chuyển đổi xanh, cần có nhân sự chuyên trách nội bộ am hiểu ESG để theo dõi quy trình và duy trì việc đo lường. Trong khi đó, thị trường đang thiếu nhân sự có chuyên môn sâu về lĩnh vực này.

Điểm nghẽn thứ ba là tư duy làm xanh đối phó, chỉ tập trung đáp ứng yêu cầu của một thị trường xuất khẩu nhất định rồi ngừng thực hiện khi chuyển sang thị trường khác.

"Nếu doanh nghiệp không tích hợp chuyển đổi xanh vào chiến lược phát triển dài hạn, việc xây dựng hồ sơ ESG dễ trở thành hoạt động mang tính thời điểm, thiếu tính liên tục", GS.TS. Nguyễn Đức Trung nhấn mạnh.

Để tháo gỡ những vướng mắc này, ông Trung khuyến nghị doanh nghiệp nên làm việc với ngân hàng ngay từ khi mới hình thành ý tưởng đầu tư, thay vì đợi đến lúc hoàn thiện toàn bộ hồ sơ mới tìm đến. Ngân hàng có thể hướng dẫn doanh nghiệp xác định điều kiện vay, chuẩn bị hồ sơ và lựa chọn phương án tài trợ phù hợp với quy mô dự án.

Với những doanh nghiệp chưa đủ nguồn lực đầu tư một dự án lớn, phương án phân kỳ có thể giúp giảm áp lực vốn. Thay vì xây dựng mới toàn bộ nhà máy, doanh nghiệp có thể bắt đầu từ một hạng mục cụ thể như thay hệ thống điều khiển, inverter hoặc ứng dụng AI để tiết kiệm điện. Sau khi triển khai, đơn vị kiểm toán độc lập sẽ xác nhận hiệu quả, làm cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục tiếp cận khoản vay xanh ở quy mô phù hợp.

Cách tiếp cận này cũng được ông Bông Hoa Việt, Giám đốc Phát triển bền vững CTCP Nhựa Bình Minh (BMP) đồng tình. Theo ông Việt, ngay cả doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt vẫn nên trao đổi với ngân hàng từ sớm nếu có kế hoạch triển khai dự án xanh, qua đó nhận được hướng dẫn về hồ sơ và tiêu chí cần đáp ứng.

Tuy nhiên, ông Chung Tấn Cường, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa TP.HCM lưu ý, để tận dụng được các nguồn hỗ trợ, doanh nghiệp vẫn cần chuẩn hóa hoạt động sản xuất, minh bạch nguồn nguyên liệu và xây dựng hệ thống đo lường phù hợp.

"Đầu tư ESG cần theo dõi dấu chân carbon, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu từ đầu vào đến đầu ra và có chỉ số cụ thể, thay vì chỉ dừng ở những mục tiêu chung như tiết kiệm điện hay giảm tiêu hao nguyên liệu", ông Cường khẳng định.

Tin bài liên quan