Kinh tế xanh và những động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

0:00 / 0:00
0:00
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, Việt Nam cần những động lực mới mang tính đột phá. Theo PGS-TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng Viện Chiến lược - Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, cùng các mô hình phát triển dựa trên không gian biển, không gian số và kinh tế tầm thấp chính là những trụ cột quan trọng.
PGS-TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng Viện Chiến lược - Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

PGS-TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng Viện Chiến lược - Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn... được coi là những động lực mới để hỗ trợ tăng trưởng 2 con số. Thưa ông, làm thế nào để tăng trưởng xanh, tuần hoàn hóa nền kinh tế?

Trong hoạt động sản xuất, đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành khác, phế thải của ngành này là nguyên liệu đầu vào của ngành kia. Để sử dụng hiệu quả thì cần phải có cả hệ sinh thái.

Tôi lấy ví dụ trong lĩnh vực nông nghiệp. Hiện ở những vùng trồng cà phê như Đắk Lắk, người dân hầu như chỉ độc canh cây cà phê, dù có áp dụng khoa học kỹ thuật đến mấy thì năng suất cũng chỉ có giới hạn. Vì vậy, thay vì chỉ độc canh cà phê, có thể trồng xen canh cây công nghiệp khác thì hiệu quả khai thác cùng diện tích đất tăng gấp 2 lần. Trên 80% bã cà phê bị bỏ đi, nhưng bã cà phê lại là nguyên liệu để sản xuất phân vi sinh hoặc tận dụng để trồng nấm. Nếu sử dụng hết bã cà phê thì hiệu quả đã tăng thêm vài lần nữa.

Tương tự, ở các vùng trồng lúa, sau vụ thu hoạch, người nông dân thường gom rơm rạ để đốt, vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa lãng phí nguồn nguyên liệu. Rơm rạ chỉ cần ủ men vi sinh, trong thời gian ngắn đã tạo ra khối lượng phân vi sinh rất lớn, làm màu mỡ đất đai, đồng thời giảm tiền mua phân bón.

Trước đây, người nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long trên cùng thửa đất hoặc trồng lúa hoặc nuôi tôm, nhưng gần đây đã biết áp dụng mô hình “tôm ôm lúa”, tức là thuận theo tự nhiên để phát triển nông nghiệp bền vững, đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều. Đây chính là kinh tế tuần hoàn hay xanh hóa nền kinh tế.

Phát triển kinh tế xanh, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên là một trong những biện pháp giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng đề ra

Phát triển kinh tế xanh, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên là một trong những biện pháp giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng đề ra

Nhưng kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực nông nghiệp liệu có khắc phục được tình trạng “được mùa rớt giá” không?

Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nếu không có sự hỗ trợ, giải thích lợi ích của kinh tế tuần hoàn thì họ vẫn sản xuất theo thói quen, kinh nghiệm. Không chỉ hiệu quả khai thác tài nguyên đất đai, mặt nước thấp, mà câu chuyện “được mùa rớt giá” không bao giờ chấm dứt.

Người sản xuất nông nghiệp hiện nay chủ yếu chỉ dừng ở khâu “trồng cây gì, nuôi con gì”. Do đó, cần có cơ chế, chính sách liên kết giữa sản xuất, chế biến và các ngành liên quan để hình thành hệ sinh thái khép kín, qua đó tối đa hóa giá trị nông sản, khi chất thải của ngành này trở thành nguyên liệu của ngành khác.

Nếu Việt Nam có hệ sinh thái tuần hoàn hoàn chỉnh thì hiện tượng “được mùa rớt giá” sẽ không tái diễn và chắc chắn có lợi thế trong xuất khẩu, không chỉ nông sản mà cả sản phẩm chế biến, chế tạo, công nghiệp khác.

Muốn tăng trưởng 2 con số, Nghị quyết 25/2026/QH16 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 của Quốc hội đặt ra yêu cầu tăng trưởng xuất khẩu hàng năm phải đạt 15-16%. Việt Nam có diện tích không lớn, nếu không khai thác tối đa kinh tế tuần hoàn, thực hiện tăng trưởng xanh, thì khó đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, khi cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt tại các thị trường phát triển - nơi đã đặt ra các “hàng rào” về môi trường, giảm phát thải carbon.

Để thực hiện khát vọng tăng trưởng 2 con số, có rất nhiều việc phải làm, nhưng thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là nhiệm vụ phải làm ngay trong năm nay theo tinh thần Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.

Cần phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi mô hình sản xuất, chứ không thể chỉ hô hào, thưa ông?

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Theo đó, có 6 nhóm ngành từ năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng, đến công nghiệp chế biến, chế tạo; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, với hàng chục lĩnh vực chi tiết. Các dự án đáp ứng tiêu chí môi trường sẽ được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước về tín dụng xanh, trái phiếu xanh.

Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đã có, nhưng nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Vấn đề nằm ở khâu tuyên truyền, hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước.

Hiện có nhiều tổ chức quốc tế hỗ trợ Việt Nam xanh hóa nền kinh tế, chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn, sản xuất thân thiện môi trường. Các ngân hàng thương mại cũng sẵn sàng đầu tư cho doanh nghiệp, người dân đầu tư vào các dự án xanh.

Nghị quyết 139/2025/NQ-CP yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính ngay trong năm 2026 phải ban hành chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng cho tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn. Theo đó, hai cơ quan này sẽ trình Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách cho doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).

Nghị quyết 01/NQ-CP cũng đặt ra vấn đề khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới như kinh tế biển, kinh tế đại dương xanh, kinh tế không gian... Những không gian phát triển mới này thì sao?

Trước hết nói về kinh tế biển, kinh tế đại dương xanh. Việt Nam có lợi thế đặc biệt về không gian biển với khoảng 3.260 km bờ biển, trải dài từ Móng Cái đến Hà Tiên, với trên 1 triệu km2 vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, gấp 3 lần diện tích đất liền.

Đứng trước tiềm năng, lợi thế to lớn, Việt Nam xác định phát triển kinh tế biển là không gian chiến lược trọng tâm, đặt mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2045. Năm 2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; những thành tựu khoa học tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.

Mới đây, tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về Đề án Tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW (ngày 8/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định, sau 8 năm thực hiện, nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên, nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá, kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường và đời sống người dân vùng biển được cải thiện.

Để tăng trưởng 2 con số không thể không dựa vào biển. Vì vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển trong giai đoạn mới, với trọng tâm chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh.

Thế còn kinh tế không gian (trên không và dưới lòng đất) đặt ra trong Nghị quyết 01/NQ-CP thì sao, thưa ông?

Khoa học, công nghệ là phương tiện để khai thác tối đa hiệu quả tư liệu sản xuất (đất đai, rừng, biển, tài nguyên, khoáng sản, không gian ngầm…). Cần áp dụng khoa học công nghệ, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để quản lý, khai thác hiệu quả từ tâm Trái đất đến hết bầu khí quyển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Chúng ta đang kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Khi hai cơ sở dữ liệu này liên thông không chỉ nâng cao quản lý nhà nước về đất đai (xác minh chủ sử dụng đất, giải quyết thủ tục hành chính, cấp sổ đỏ, theo dõi biến động đất đai, thuế phí…), mà còn giúp khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, bao gồm cả tài nguyên khoáng sản và không gian ngầm.

Trên không gian, Việt Nam đã và đang khai thác kinh tế tầm thấp, tạo ra hệ sinh thái gồm thiết bị, hạ tầng, dịch vụ và ứng dụng phục vụ sản xuất, đời sống. Kinh tế tầm thấp đang ngày càng hiện diện trong logistics, nông nghiệp, khảo sát đo đạc, giám sát môi trường, cứu hộ cứu nạn hay y tế khẩn cấp. Khi triển khai quy mô lớn, các hoạt động này không chỉ nâng cao năng suất, giảm chi phí, mà còn mở rộng chuỗi cung ứng dịch vụ, hình thành ngành nghề mới.

Tăng trưởng 2 con số là thách thức không nhỏ, song nếu ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh và không gian phát triển từ tâm trái đất đến hết bầu khí quyển thì mục tiêu này là hoàn toàn khả thi.

Tin bài liên quan