7 ngân hàng đang cho PNJ vay 2.893 tỷ đồng bằng hàng tồn kho và tín chấp

7 ngân hàng đang cho PNJ vay 2.893 tỷ đồng bằng hàng tồn kho và tín chấp

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Tính đến cuối tháng 3/2026, có 7 ngân hàng (Vietcombank, BIDV, Vietinbank, ACB, HSBC, Keb Hana Bank, Woori Việt Nam) đang rót gần 2.893 tỷ đồng cho PNJ cả thế chấp bằng hàng tồn kho và tín chấp. 

Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 cho thấy PNJ còn gần 2.893 tỷ đồng vay ngắn hạn, giảm hơn 31% so với cuối năm 2025. Các khoản vay ngân hàng của PNJ đều là vay ngắn hạn, với mục đích bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thời hạn của từng khoản vay thay đổi tùy theo lần giải ngân cụ thể.

Nhìn vào cơ cấu chi tiết, dư nợ vay ngân hàng của PNJ được chia thành hai nhóm rõ rệt: vay tín chấp (không có tài sản đảm bảo) và vay có tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho.

Đến ngày 31/3/2026, có ba ngân hàng cho PNJ vay tín chấp gồm: HSBC, Keb Hana Bank, ACB. Trong đó, HSBC Việt Nam: dư nợ cuối kỳ 53 tỷ đồng, lãi suất tăng lên 6,9%/năm. Keb Hana Bank-TP HCM: dư nợ giữ nguyên ở mức 180 tỷ đồng, lãi suất không đổi, vẫn 4,3%/năm. ACB: dư nợ 458 tỷ đồng, lãi suất tăng lên 5,5%/năm.

Còn nhóm cho PNJ vay có tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho gồm Vietcombank, BIDV, Vietinbank, Woori Việt Nam. Phần lớn dư nợ vay ngắn hạn của PNJ đến từ nhóm các ngân hàng cho vay có tài sản đảm bảo, với tài sản thế chấp là hàng tồn kho của Tập đoàn.

Thời điểm 31/3/2026, Woori Việt Nam: dư nợ giữ nguyên 161 tỷ đồng, lãi suất 6,1%/năm. BIDV - Chi nhánh Hóc Môn: giảm về 908 tỷ đồng, lãi suất 4,9%/năm. Vietcombank giảm về 756 tỷ đồng, lãi suất 6,6%/năm. Vietinbank: 378 tỷ đồng, lãi suất 6,5%/năm.

Giá trị hàng tồn kho được PNJ dùng làm tài sản thế chấp tại ngày 31/3/2026 được thuyết minh là 4.361 tỷ đồng. Mức này cao hơn tổng dư nợ vay ngắn hạn có đảm bảo cộng dồn từ 4 ngân hàng nói trên 2.203 tỷ đồng.

Tính đến ngày 31/3/2026, hàng tồn kho của PNJ bao gồm: thành phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 7.291 tỷ đồng), hàng hóa (hơn 3.472 tỷ đồng), nguyên vật liệu (hơn 2.199 tỷ đồng) và chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (hơn 452 tỷ đồng).

Giá trị thuần của hàng tồn kho sau khi trừ dự phòng giảm giá tại ngày 31/3/2026 là 13.419 tỷ đồng. Tại ngày 31/3/2026, Tập đoàn trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho các mặt hàng hư hỏng hoặc kém phẩm chất ở mức 42 tỷ đồng.

Bên cạnh hàng tồn kho, PNJ còn sử dụng tài sản cố định làm tài sản thế chấp cho các khoản vay ngân hàng thương mại. Tại ngày 31/3/2026, Tập đoàn xác nhận vẫn đang duy trì việc sử dụng tài sản cố định làm tài sản thế chấp song song với hàng tồn kho. Tài sản cụ thể nhất được nêu tên trong thuyết minh là quyền sử dụng đất tại số 52L-52M Nguyễn Văn Trỗi, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP HCM (nay thuộc Phường Cầu Kiệu do sắp xếp đơn vị hành chính). Tài sản này được dùng để đảm bảo cho các khoản vay của cả tập đoàn và công ty TNHH Một thành viên Chế tác và Kinh doanh Trang sức PNJ (PNJ JP).

Về quy mô, tại ngày 31/3/2026, tài sản cố định hữu hình của PNJ, gồm nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và thiết bị văn phòng, có tổng giá trị còn lại 246 tỷ đồng. Tài sản cố định vô hình, chủ yếu là quyền sử dụng đất và phần mềm máy tính, có tổng giá trị còn lại 668 tỷ đồng, trong đó riêng quyền sử dụng đất chiếm phần lớn với giá trị sổ sách hơn 634 tỷ đồng.

PNJ đang xử lý các tác động từ vụ việc P-Lab và nhu cầu khách hàng bán lại kim cương tăng đột biến. Doanh nghiệp cho biết lượng kim cương mua vào hiện cao gấp khoảng 5 lần lượng bán ra, đồng thời điều chỉnh chính sách thanh toán đối với hoạt động thu mua, kéo dài thời gian chi trả trong một số trường hợp.

Tin bài liên quan