Luật Đô thị đặc biệt: Kiến tạo một mô hình quản trị cho vùng TP.HCM

0:00 / 0:00
0:00
Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt không chỉ tạo động lực phát triển cho TP.HCM mà còn hướng tới kiến tạo một mô hình quản trị, cơ chế liên kết vùng thực chất, hiệu quả.
Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt dành riêng một chương để quy định về các nội dung gắn với khái niệm vùng đô thị đặc biệt, các điều kiện cơ chế vùng và các chính sách liên kết. Ảnh: LV.

Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt dành riêng một chương để quy định về các nội dung gắn với khái niệm vùng đô thị đặc biệt, các điều kiện cơ chế vùng và các chính sách liên kết. Ảnh: LV.

Tháo gỡ điểm nghẽn liên kết vùng

Sáng 10/6, UBND TP.HCM tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý của các tỉnh, thành về Dự thảo dự án Luật Đô thị đặc biệt.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ tịch UBND TP.HCM cho biết, việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt không chỉ đơn thuần là tìm kiếm cơ chế, chính sách hay điều kiện pháp lý để riêng TP.HCM phát triển, mà còn là cơ hội để cùng các địa phương phát huy vai trò liên kết vùng, vai trò dẫn dắt của Thành phố nhằm kiến tạo một mô hình quản trị và sự gắn kết thực chất, hiệu quả, đóng góp cho sự phát triển mạnh mẽ của Thành phố, của Vùng và của đất nước trong thời gian tới.

Trong thiết kế của dự thảo Luật, Thành phố có dành riêng Chương VII để quy định về các nội dung gắn với khái niệm vùng đô thị đặc biệt, các điều kiện cơ chế vùng và các chính sách liên kết.

Lãnh đạo UBND Thành phố cho biết thực tế cho thấy, dù đã có nhiều nỗ lực, nhiều mô hình liên kết vùng nhưng vẫn còn đó những “điểm nghẽn”, những nút thắt và khó khăn chưa được tháo gỡ do thiếu các cơ chế và điều kiện pháp lý đủ mạnh. Do đó, cơ chế điều tiết và phương thức liên kết cần được khẳng định rõ trong Luật để thúc đẩy sự phát triển của Thành phố với vai trò trung tâm vùng.

Theo dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, Vùng Đô thị đặc biệt là khu vực liên kết phát triển kinh tế - xã hội gồm TP.HCM và các đơn vị hành chính cấp Thành phố, tỉnh có địa giới hành chính liền kề với TP.HCM.

Trong mô hình này, đô thị đặc biệt là hạt nhân, đô thị trung tâm trong vùng đô thị đặc biệt, thực hiện liên kết phát triển vùng đô thị đặc biệt với các địa phương trong vùng kinh tế - xã hội có liên quan, phù hợp với vai trò là trung tâm, cực tăng trưởng của vùng.

Dự thảo cũng đưa ra nguyên tắc Nhà nước ưu tiên nguồn lực để thúc đẩy liên kết, phát triển giữa đô thị đặc biệt với các địa phương trong vùng đô thị đặc biệt. Việc liên kết phát triển vùng đô thị đặc biệt phải bảo đảm nguyên tắc đồng thuận, công khai, minh bạch; Đồng thời thực hiện phối hợp, liên kết phát triển thông qua chương trình, kế hoạch, dự án liên kết phát triển vùng đô thị đặc biệt.

“Thành phố kỳ vọng Luật Đô thị đặc biệt không chỉ là điều kiện để Thành phố tăng tốc phát triển, mà còn là khung pháp lý để Thành phố cùng với các địa phương ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực lân cận cùng nhau thúc đẩy, tạo ra những bứt phá trong thời gian tới”, ông Nguyễn Mạnh Cường khẳng định.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ tịch UBND TP.HCM phát biểu tại hội nghị. Ảnh: LV.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ tịch UBND TP.HCM phát biểu tại hội nghị. Ảnh: LV.

Đánh giá về định hướng này, GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, Nguyên Phó Hiệu trưởng, Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng việc đưa nội dung liên kết vùng vào Luật Đô thị đặc biệt là bước tiến quan trọng nhằm thể chế hóa một yêu cầu phát triển đã được đặt ra từ nhiều năm nay.

Theo ông Hoài, TP.HCM hiện đóng góp khoảng 1/4 GDP cả nước và được xác định là đô thị hạt nhân theo tinh thần Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trong bối cảnh các tuyến Vành đai 3 và Vành đai 4 đang được triển khai, giao thông sẽ không đi xuyên tâm, mà TP.HCM sẽ đóng vai trò hạt nhân, còn các địa phương khác là nơi tạo tiềm năng liên kết theo cơ chế đồng thuận, chia sẻ và đôi bên cùng có lợi.

“Trong các thảo luận quy hoạch, chúng tôi luôn nêu các từ khóa như "vành đai công nghiệp", "vành đai logistics" gắn với Vành đai 3, Vành đai 4. TP.HCM không thể tự tạo ra hành lang mà không kết nối với các địa phương khác”, ông Hoài nói thêm.

Theo vị chuyên gia, dự thảo luật đã đặt ra ba nội dung then chốt gồm xác lập rõ vai trò đô thị hạt nhân của TP.HCM; hình thành cơ chế điều phối vùng có thực quyền; và tạo nguồn lực tài chính thông qua Quỹ phát triển vùng để thúc đẩy các dự án liên kết.

Lập Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt

Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là Điều 39 về đầu tư và quản lý các dự án liên kết phát triển vùng.

Theo đó, các địa phương tham gia dự án sẽ thống nhất lựa chọn một UBND cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản thực hiện dự án. Ngân sách trung ương được ưu tiên bố trí vốn cho dự án liên kết vùng, đồng thời ưu tiên bố trí từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương để bảo đảm đầu tư các dự án liên kết, phát triển vùng, dự án liên kết, phát triển vùng Đô thị đặc biệt trước các chương trình, nhiệm vụ, dự án khác.

Dự thảo cũng cho phép các địa phương trong vùng Đô thị đặc biệt được sử dụng ngân sách để đầu tư trực tiếp vào dự án liên kết, phát triển vùng Đô thị đặc biệt trên địa bàn địa phương khác trong vùng Đô thị đặc biệt nhằm giải quyết các vấn đề về hạ tầng giao thông, môi trường, cấp nước sạch, thoát nước và công trình khác để phục vụ lợi ích chung.

Các địa phương đánh giá việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt ở thời điểm hiện nay là rất cần thiết, không chỉ đối với TP.HCM mà còn đối với toàn vùng Đông Nam Bộ. Ảnh: LV.

Các địa phương đánh giá việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt ở thời điểm hiện nay là rất cần thiết, không chỉ đối với TP.HCM mà còn đối với toàn vùng Đông Nam Bộ. Ảnh: LV.

Để tạo nguồn lực lâu dài cho liên kết vùng, dự thảo đề xuất thành lập Quỹ Phát triển vùng Đô thị đặc biệt. Đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do HĐND Đô thị đặc biệt thành lập trên cơ sở thống nhất với các địa phương trong vùng Đô thị đặc biệt. Nguồn tài chính của Quỹ hình thành từ ngân sách Trung ương, ngân sách của địa phương trong vùng Đô thị đặc biệt, các nguồn hỗ trợ, tài trợ và nguồn hợp pháp khác.

Nguồn vốn của Quỹ được sử dụng để đầu tư các dự án liên kết phát triển vùng Đô thị đặc biệt, ưu tiên các dự án về giao thông, hạ tầng quan trọng, dự án xử lý ô nhiễm môi trường, khai thác khoáng sản; xử lý sự cố, thiên tai, kiểm soát bệnh tật có tính chất vùng.

Đại diện địa phương có nhiều dự án kết nối trực tiếp với TP.HCM, ông Phạm Tuấn Anh, Phó giám đốc Sở Tài chính Đồng Nai đánh giá việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt ở thời điểm hiện nay là rất cần thiết, không chỉ đối với TP.HCM mà còn đối với toàn vùng Đông Nam Bộ.

“Mặc dù Đồng Nai chưa phải là đơn vị đô thị đặc biệt, nhưng qua các nội dung về liên kết vùng, chắc chắn Đồng Nai sẽ được hưởng những lợi ích nhất định khi triển khai các dự án. Chúng tôi thấy các chính sách đưa ra rất hợp lý, phù hợp thực tế vùng Đông Nam Bộ”, ông Tuấn Anh nói.

Theo ông Tuấn Anh, các quy định về liên kết vùng trong dự thảo mang tính đột phá và phù hợp với thực tiễn phát triển hiện nay. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn nguyên “đồng thuận, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa đô thị đặc biệt và các địa phương”. Việc đồng thuận này cần được hiểu rõ là giữa các địa phương có liên kết với nhau chứ không chỉ nói chung chung.

Đối với đề xuất thành lập Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt, Đồng Nai bày tỏ sự đồng thuận cao. Đại diện Sở Tài chính Đồng Nai cho rằng đây sẽ là nguồn lực quan trọng để triển khai các công trình kết nối trọng điểm giữa TP.HCM và các địa phương lân cận.

Ông Tuấn Anh cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế cho phép các địa phương có tỷ lệ điều tiết ngân sách lớn như TP.HCM, Đồng Nai được trích lập một phần nguồn thu trước khi nộp về Trung ương để bổ sung cho quỹ, qua đó tạo thêm nguồn lực cho các dự án liên vùng như cầu Cát Lái, cầu Phú Mỹ và các công trình kết nối chiến lược khác.

Bên cạnh hạ tầng và đầu tư, dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cũng dành một điều riêng quy định về cơ chế phối hợp bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu trong vùng đô thị đặc biệt. Theo dự thảo, TP.HCM sẽ giữ vai trò điều phối trong cơ chế hợp tác vùng về môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu trên cơ sở hài hòa lợi ích, chia sẻ trách nhiệm giữa các địa phương. Các nội dung phối hợp bao gồm chia sẻ dữ liệu môi trường; xây dựng hệ thống quan trắc ô nhiễm liên vùng; quản lý chất lượng không khí, nguồn nước, chất thải rắn và nước thải; bảo tồn đa dạng sinh học; kiểm soát ô nhiễm và ứng phó sự cố môi trường.

Tin bài liên quan