Lực đẩy cho các “đầu tàu” phát triển hạ tầng giao thông

0:00 / 0:00
0:00
Những định hướng quan trọng tại Nghị quyết số 79-NQ/TW là kim chỉ nam giúp các tổng công ty Nhà nước về giao thông vươn lên trở thành những đầu tàu dẫn dắt mũi đột phá về hạ tầng giao thông trong 5-10 năm tới.
Bảo trì hệ thống thông tin tín hiệu trên tuyến đường sắt Bắc Nam. Ảnh: P.V

Bảo trì hệ thống thông tin tín hiệu trên tuyến đường sắt Bắc Nam. Ảnh: P.V

Làm chủ công nghệ mới

Chỉ 3 ngày sau khi kết thúc phiên họp thứ 5 của Ban Chỉ đạo các dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt (ngày 6/1/2026), đích thân Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Đường sắt Việt Nam Đặng Sỹ Mạnh đã chủ trì một cuộc họp khẩn để bàn một việc lớn, việc khó mà đơn vị này có trách nhiệm gánh vác: chủ động tiếp nhận và làm chủ những công nghệ mới, liên quan đến lĩnh vực thông tin tín hiệu đường sắt.

Đích đến đầu tiên trong lĩnh vực thông tin tín hiệu đường sắt mà doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đang vận hành, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia chính là Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng vừa khởi công xây dựng vào cuối tháng 12/2025.

Tuyến đường sắt này có chiều dài 390,9 km, tuyến nhánh gần 28 km, đi qua 6 tỉnh, thành phố; là tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn 1.435 mm, vận chuyển chung hành khách và hàng hóa, có tốc độ cao, đáp ứng yêu cầu kết nối liên vùng, liên vận quốc tế.

So với tuyến đường sắt Bắc - Nam hiện hữu, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng có tốc độ vượt trội (khoảng 160 km/h), công nghệ đoàn tàu, thông tin tín hiệu hiện đại hơn hẳn.

“Với tư cách là đơn vị tiếp nhận Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng sau khi hoàn thành, việc chủ động nắm bắt, tiếp nhận chuyển giao công nghệ thông tin tín hiệu từ đối tác sẽ không chỉ giúp Tổng công ty Đường sắt Việt Nam khai thác hiệu quả công trình, mà còn giúp Việt Nam bảo đảm an ninh, an toàn”, ông Đặng Sỹ Mạnh cho biết.

Cần phải nói thêm rằng, việc làm chủ công nghệ thông tin - tín hiệu đường sắt không chỉ là câu chuyện kỹ thuật thuần túy, mà mang ý nghĩa chiến lược đối với an toàn, năng lực khai thác và chủ quyền công nghệ của ngành đường sắt Việt Nam.

Việc trao thêm quyền và nguồn lực để doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực giao thông làm chủ công nghệ, dẫn dắt đầu tư, thúc đẩy hợp tác công - tư, sẽ tạo nền tảng bứt phá cho hạ tầng giao thông quốc gia.

Theo ông Bùi Đình Sỹ, Giám đốc Công ty cổ phần Thông tin tín hiệu đường sắt Hà Nội, hệ thống thông tin - tín hiệu là “bộ não” của vận hành đường sắt.

Chính vì vậy, làm chủ công nghệ trong lĩnh vực này đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ từng bước chủ động thiết kế, hiệu chỉnh, bảo trì và nâng cấp hệ thống tín hiệu; giảm phụ thuộc vào chuyên gia, thiết bị và phần mềm nước ngoài; kiểm soát tuyệt đối các thuật toán an toàn, không có “vùng mù” công nghệ.

“Trong bối cảnh đường sắt đang hướng tới tốc độ cao hơn, mật độ tàu dày hơn, tiêu chuẩn an toàn cao hơn, việc phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ ngoại nhập sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn về an ninh - an toàn khai thác”, ông Sỹ chia sẻ.

Bên cạnh đó, khi làm chủ công nghệ thông tin - tín hiệu, Việt Nam có điều kiện hình thành chuỗi công nghiệp đường sắt trong nước, phát triển các doanh nghiệp công nghệ, tự động hóa và viễn thông chuyên ngành, đồng thời đào tạo đội ngũ kỹ sư tín hiệu, điều độ và an toàn chạy tàu trình độ cao.

Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam tham gia sâu vào các dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, phát triển các tuyến liên vận quốc tế kết nối Trung Quốc, Lào, Campuchia và từng bước cung cấp, xuất khẩu dịch vụ kỹ thuật đường sắt trong khu vực.

Trên thực tế, với 5 công ty cổ phần thông tin tín hiệu đường sắt thuộc hệ sinh thái, gồm 1.680 nhân sự chuyên sâu; 502 tiến sỹ, thạc sỹ, kỹ sư…, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam chính là đơn vị duy nhất có kinh nghiệm, năng lực trong lĩnh vực đặc thù này. Trình độ quản lý, điều hành hệ thống thông tin tín hiệu của Tổng công ty đã tiệm cận với mặt bằng chung trong khu vực.

Tuy nhiên, để có thể làm chủ được công nghệ thông tin tín hiệu đường sắt tại Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tiến tới là siêu dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cần phải nỗ lực rất nhiều.

Ngoài việc phải khẩn trương đưa cán bộ, kỹ sư đi đào tạo nâng cao tại các quốc gia có ngành đường sắt phát triển, việc được tham gia ngay từ khi Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng được triển khai để chủ động tiếp nhận chuyển giao các công nghệ lõi là những việc cần làm ngay đối với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

“Việc tiếp nhận công nghệ thông tin tín hiệu đường sắt và triển khai xây dựng Tổ hợp công nghiệp đường sắt Việt Nam trị giá gần 20.000 tỷ đồng chính là nền tảng để Tổng công ty từng bước vươn lên thành một tập đoàn kinh tế Nhà nước hàng đầu khu vực trong lĩnh vực đường sắt, giống như mô hình của Tổng công ty Đường sắt Quốc gia Trung Quốc hay Tập đoàn Đường sắt Đức (Deutsche Bahn - DB) trong tương lai gần, đúng như định hướng quan trọng tại Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị”, ông Đặng Sỹ Mạnh chia sẻ.

Xác lập vị thế dẫn dắt

Không chỉ Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, một số tổng công ty nhà nước trong lĩnh vực hạ tầng giao thông cũng đã và đang bắt đầu xác lập vị thế dẫn dắt thông qua việc thúc đẩy hiện đại hóa, minh bạch và quản trị doanh nghiệp theo chuẩn quốc tế; khơi thông nguồn lực đầu tư, huy động vốn tư nhân và tối ưu hóa tài sản hạ tầng công.

Tại Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), đơn vị Nhà nước nắm giữ tới 95,4% vốn điều lệ, dù đang rất bận rộn với Dự án thành phần 3, Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn I, để đưa vào khai thác trong quý II/2026, nhưng vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc triển khai các hạng mục tiếp theo của đại công trình hạ tầng hàng không này.

Cụ thể, ACV đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng quyết định chủ trương giao ACV làm chủ đầu tư giai đoạn II, Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành với quy mô bao gồm 1 đường cất hạ cánh cấu hình mở, 1 nhà ga hành khách và các hạng mục công trình đồng bộ khác để đạt công suất 50 triệu lượt hành khách/năm, 1,5 triệu tấn hàng hóa/năm trước khi quyết định phê duyệt Dự án.

Theo đề xuất của ACV, Dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh thứ 3 và các công trình phụ trợ đồng bộ có thể thực hiện toàn bộ bởi các nhà thầu trong nước từ thiết kế, thẩm tra cho tới thi công, giám sát thi công. Tổng mức đầu tư dự án này khoảng 13.000 tỷ đồng, dự kiến đầu tư bằng nguồn vốn hợp pháp của ACV, không sử dụng bảo lãnh Chính phủ.

“Việc đầu tư vào công trình có quy mô vốn rất lớn, phức tạp về công nghệ không chỉ đưa Long Thành trở thành một cảng hàng không trung chuyển lớn của khu vực, mà còn thể hiện vai trò dẫn dắt của ACV trong lĩnh vực hạ tầng hàng không”, ông Nguyễn Tiến Việt, Phó tổng giám đốc phụ trách ACV chia sẻ.

Trong lĩnh vực đường cao tốc, vào đầu tuần này, lãnh đạo Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) - doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trong lĩnh vực đầu tư phát triển đường cao tốc, đã cùng với 3 nhà đầu tư tư nhân khác đặt bút ký hợp đồng tín dụng với nhóm ngân hàng do Agribank đứng đầu cho khoản vay lên tới hơn 25.000 tỷ đồng để thực hiện Dự án PPP thành phần 3 thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 4 - vùng Thủ đô Hà Nội.

Đây là công trình hạ tầng giao thông quy mô lớn, gồm việc xây dựng 113 km cao tốc 4 làn xe, có tổng mức đầu tư hơn 56.000 tỷ đồng. Khi hoàn thành vào năm 2027, Dự án không chỉ làm thay đổi diện mạo giao thông Thủ đô, mà còn góp phần đưa cả nước hướng tới mục tiêu 5.000 km cao tốc vào năm 2030.

“Chính vì vậy, sự kết hợp của VEC với tư cách là doanh nghiệp nhà nước hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư đường cao tốc và 3 doanh nghiệp tư nhân lớn trong lĩnh vực tài chính, bất động sản là biểu tượng cho mô hình hợp tác PPP theo đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị”, ông Trương Việt Đông, Chủ tịch HĐTV VEC cho biết.

Hiện VEC là nhà đầu tư đường cao tốc lớn nhất Việt Nam. Ngoài việc đã đầu tư, vận hành 520 km, VEC còn có vốn điều lệ lên tới 38.618,7 tỷ đồng sau khi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước này được cấp có thẩm quyền phê duyệt tăng vốn điều lệ vào tháng 6/2025.

Để khẳng định vai trò đầu tàu, trong năm 2026, VEC sẽ đẩy nhanh việc nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền để tham gia đầu tư các Dự án: cao tốc Nội Bài - Bắc Ninh - Phả Lại; mở rộng đoạn cao tốc từ phường Bình Minh - cầu Kim Thành kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai; cao tốc Gò Dầu - Xa Mát; cao tốc TP.HCM - Mộc Bài; tham gia đầu tư một số dự án mở rộng tuyến cao tốc Bắc - Nam có hiệu quả tài chính và khả năng hoàn vốn cao.

“Với việc được trao quyền lớn hơn trong việc quyết định các dự án đầu tư như Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đề cập, sẽ giúp VEC khẳng định vị thế, vai trò của doanh nghiệp nhà nước chủ lực trong đầu tư hạ tầng, đúng theo tinh thần của Nghị quyết”, lãnh đạo VEC nhấn mạnh.

Tin bài liên quan