Một thể chế minh bạch, ổn định và thân thiện với doanh nghiệp tư nhân chính là chìa khóa để khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Một thể chế minh bạch, ổn định và thân thiện với doanh nghiệp tư nhân chính là chìa khóa để khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Mở đường cho doanh nghiệp tư nhân bứt phá

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi Việt Nam huy động khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó gần 80% dự kiến đến từ khu vực xã hội hóa. Điều này đặt cải cách thể chế và mở đường cho doanh nghiệp tư nhân trở thành yêu cầu cấp thiết.

Dư địa lớn cho khu vực tư nhân bứt phá

Sau 40 năm đổi mới, từ chỗ từng bị phân biệt đối xử đến khi chính thức được thừa nhận, lần đầu tiên tại Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, khu vực này được đặt đúng vị trí là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia, là “lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao từ 10% trở lên mỗi năm, tương đương nhu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, gấp 2,7 lần tổng vốn đầu tư thực hiện giai đoạn 2021-2025. Trong đó, nguồn lực từ ngân sách nhà nước dự kiến khoảng 8,51 triệu tỷ đồng; phần còn lại, tương đương gần 80% tổng vốn, được xác định đến từ khu vực xã hội hóa, gồm kinh tế tư nhân, thị trường vốn và doanh nghiệp nước ngoài.

Đặc biệt, khi dư địa từ khu vực đầu tư công và các động lực truyền thống như tiêu dùng, xuất khẩu dần thu hẹp, phát triển kinh tế tư nhân ngày càng được chú trọng và đề cao.

Việt Nam hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động chính thức và 5 triệu hộ kinh doanh. Năm 2025, nền kinh tế tăng trưởng ấn tượng 8,03%, trong đó khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho hơn 82% lao động trong nền kinh tế.

Một số tập đoàn tư nhân đã vươn lên giữ vị thế đáng kể không chỉ trên thị trường nội địa mà còn bắt đầu mở rộng ra khu vực và thế giới như Vingroup, Thaco, FPT, Hòa Phát, Vinamilk, Masan…

Trong giai đoạn phát triển mới, khu vực kinh tế tư nhân đang được đặt lên vai trọng trách lớn hơn bao giờ hết.

Theo Nghị quyết 68-NQ/TW, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp, trong đó ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10-12%/năm, cao hơn tăng trưởng của cả nền kinh tế, đóng góp khoảng 55-58% GDP. Đến năm 2045, mục tiêu là có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp, đóng góp trên 60% GDP.

Sau Nghị quyết 68-NQ/TW, ngày 17/5/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, trong đó quy định hàng loạt ưu đãi cho khu vực này, từ cải thiện môi trường kinh doanh đến hỗ trợ tiếp cận đất đai, tăng ưu đãi thuế, tín dụng, mua sắm công…

Tuy vậy, hiện vẫn còn nhiều dư địa để khu vực này phát huy nội lực và bứt phá theo đà tăng trưởng cao của nền kinh tế. Nghị quyết 68-NQ/TW cũng thừa nhận, “kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, chưa bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu, kỳ vọng là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế đất nước”.

Gần 97% doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó khoảng 70% có quy mô dưới 10 lao động. Số liệu thống kê cho biết, trong năm 2025, lượng doanh nghiệp rời bỏ thị trường là 227.000, trong khi lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động là 297.500. Mỗi ngày có 815 doanh nghiệp gia nhập nhưng cũng có tới 622 doanh nghiệp rời bỏ thị trường.

Ông Phạm Trọng Nhân, Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động TP.HCM, người từng nhiều năm làm lãnh đạo một số doanh nghiệp vật liệu xây dựng tại Bình Dương (cũ) cho rằng, mặc dù đóng góp hơn một nửa GDP nhưng kinh tế tư nhân chỉ chiếm 30% xuất khẩu, phần còn lại thuộc về khu vực FDI.

Chênh lệch đó phản ánh một thực tế là kinh tế tư nhân vẫn chủ yếu hoạt động ở thị trường nội địa, gia công hoặc ở các phân khúc giá trị thấp, trong khi những ngành chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng lại thiếu vắng vai trò dẫn dắt của khu vực này.

Thể chế đi trước, khơi thông nguồn lực

Chuỗi nào yếu ở đâu thì tập trung hỗ trợ đúng điểm nghẽn đó để tạo ra những doanh nghiệp “đại bàng”, thay vì cách hỗ trợ dàn trải như hiện nay.

Trong bối cảnh khu vực kinh tế tư nhân được đặt vào trung tâm của chiến lược tăng trưởng và nhu cầu huy động vốn lớn từ khu vực ngoài nhà nước, một thể chế minh bạch và thân thiện chính là điều kiện tiên quyết để khu vực này bứt phá.

Tuy vậy, ông Phạm Trọng Nhân đặt vấn đề: phải chăng khu vực được xác định là “động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” vẫn đang vận hành trong một khuôn khổ thể chế chưa tương xứng?

Dù đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện chính sách, nhưng cách tiếp cận vẫn thiên về hỗ trợ, trong khi điều doanh nghiệp cần là một khung pháp lý vững chắc, ổn định, bình đẳng và có thể thực thi để họ yên tâm đầu tư dài hạn.

Từ Nghị quyết 68-NQ/TW đến nay, Quốc hội mới chỉ ban hành thêm Nghị quyết 198/2025/QH15. Việt Nam đã có Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng các luật này chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể; cơ chế hỗ trợ vẫn còn thiên về “xin - cho”. Ông Nhân đề nghị cần có một luật khung là Luật Bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân, nhằm xác lập các nguyên tắc nền tảng bảo vệ quyền, bảo đảm sự ổn định và tính dự báo của môi trường pháp lý đối với doanh nghiệp tư nhân.

Ông Lê Văn Hiểu, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Máy và Thiết bị phụ tùng nêu quan điểm, doanh nghiệp chỉ có thể yên tâm đầu tư dài hạn và chấp nhận đổi mới nếu khung chính sách minh bạch, ổn định và nhất quán. Theo ông Hiểu, chính sách không phải là công cụ để kiểm soát doanh nghiệp, mà phải trở thành bệ phóng để doanh nghiệp phát triển.

Việc Chính phủ đang tiến hành tổng rà soát hệ thống pháp luật, gắn với thời hạn và định lượng cụ thể, là một tín hiệu rất đáng mừng. Năm 2026, Chính phủ cam kết cắt giảm 30% số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, giảm 100% điều kiện kinh doanh không cần thiết, giảm 50% thời gian thực hiện và 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính…

Đại biểu Quốc hội Hoàng Minh Hiếu (đoàn Nghệ An) cho rằng, cần xác định đơn giản hóa thủ tục hành chính không chỉ là nhiệm vụ hành chính, mà là giải pháp trọng tâm để khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố niềm tin của thị trường. Hiện vẫn còn nhiều thủ tục hành chính phiền hà, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, nhất là các thủ tục liên ngành liên quan đến đất đai, đầu tư, quy hoạch, tài chính…

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Như So, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dabaco Bắc Ninh nhận xét, hiện tỷ lệ nội địa hóa trong nền kinh tế còn thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; 90% doanh nghiệp tư nhân nhỏ và siêu nhỏ chủ yếu ở phân khúc giá trị thấp, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào động lực bên ngoài và chưa hình thành năng lực nội sinh vững chắc.

Ông So cho rằng, khi động lực công nghệ và năng suất chưa thể bứt phá ngay trong ngắn hạn, vốn đầu tư đang trở thành trụ cột chính của tăng trưởng. Cần thiết kế chính sách để giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển thực chất thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, giúp hình thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn đúng nghĩa cho doanh nghiệp tư nhân và nền kinh tế.

“Xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất thì cần thiết phải có cơ chế hợp tác công tư linh hoạt, minh bạch để mỗi đồng vốn ngân sách kéo theo nhiều đồng vốn xã hội, hình thành cơ chế lựa chọn, nuôi dưỡng các doanh nghiệp đầu tàu trong các ngành then chốt”, ông So khuyến nghị.

Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, Việt Nam cần định hình lại chính sách hỗ trợ doanh nghiệp bắt đầu từ các tập đoàn dẫn dắt chuỗi; chuỗi nào yếu ở đâu thì tập trung hỗ trợ đúng điểm nghẽn đó để tạo ra những doanh nghiệp “đại bàng”, thay vì cách hỗ trợ dàn trải như hiện nay, giống như “rải thóc cho chim sẻ ăn” nên chỉ tạo ra những doanh nghiệp “chim sẻ”.

“Ví dụ, với chuỗi công nghiệp ô tô, có thể lấy VinFast và Thaco làm những trường hợp trọng điểm. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đủ mạnh, đủ rõ để các doanh nghiệp dẫn dắt này chủ động xác định sẽ kéo theo ai, hỗ trợ mắt xích nào, với mức độ ra sao để tạo hiệu quả lan tỏa cho toàn chuỗi giá trị”, ông Thiên nói.

Tin bài liên quan