Hoãn xuất cảnh khi bỏ địa chỉ kinh doanh và nợ thuế
Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung ngưỡng nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Cục Thuế cho rằng, việc bổ sung ngưỡng nợ thuế 1 triệu đồng sẽ bị hoãn xuất cảnh, thực chất là bước điều chỉnh theo hướng tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế so với quy định hiện hành tại Nghị định 49/2025/NĐ-CP.
Cụ thể, Nghị định 49/2025/NĐ-CP chưa có quy định về ngưỡng nợ tối thiểu để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Điều này đồng nghĩa, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế dù rất nhỏ vẫn có thể thuộc diện xem xét hoãn xuất cảnh nếu đã được thông báo nhưng quá 30 ngày chưa khắc phục.
Cục Thuế cũng cho biết, hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đăng ký có số nợ dưới 1 triệu đồng, nhưng số nợ này chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng nợ thuế. Do đó, nếu tiếp tục duy trì cơ chế không có ngưỡng như hiện nay, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể ảnh hưởng đến số lượng lớn người nộp thuế, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng. Vì vậy, việc bổ sung ngưỡng 1 triệu đồng nhằm bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa tính chất vi phạm và biện pháp quản lý nhà nước áp dụng. Đây là bước “nới lỏng điều kiện áp dụng” chứ không phải siết chặt hơn.
Ông Nguyễn Văn Thức, Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc Công ty TNHH BCTC cho rằng, thực tế hiện nay nhóm rủi ro lớn nhất của cơ quan thuế không phải doanh nghiệp đang hoạt động bình thường, mà là nhóm xuất hóa đơn rồi biến mất, nợ thuế kéo dài, không kê khai, bỏ địa chỉ kinh doanh, thay đổi người đại diện liên tục, sử dụng giám đốc thuê, đóng cửa văn phòng nhưng không giải thể.
“Trong nhiều trường hợp, tài sản doanh nghiệp không còn, hồ sơ thất lạc, người lao động nghỉ việc, cơ quan thuế chỉ còn người đại diện pháp luật là đầu mối xử lý. Nếu người này xuất cảnh thì việc cưỡng chế gần như rất khó, khả năng thu hồi nợ gần như bằng không. Do đó, việc siết xuất cảnh đối với nhóm doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh được xem là biện pháp phòng ngừa nhằm giữ đầu mối xử lý, chống bỏ trốn, tăng trách nhiệm của người đại diện pháp luật, hạn chế doanh nghiệp ma”, ông Thức nói.
Ông Thức cho biết thêm, mức 1 triệu đồng như dự thảo không áp dụng cho mọi doanh nghiệp, mà chỉ áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh. Như vậy, vấn đề không còn là số tiền lớn hay nhỏ, mà là dấu hiệu rủi ro bỏ trốn và không hợp tác với cơ quan quản lý.
“Xét về góc độ quản lý thuế, doanh nghiệp nợ 1 triệu đồng nhưng bỏ địa chỉ có thể nguy hiểm hơn doanh nghiệp nợ 500 triệu đồng nhưng vẫn hoạt động, kê khai và hợp tác bình thường. Do đó, cơ quan quản lý muốn xử lý mạnh hành vi rủi ro thay vì chỉ nhìn vào giá trị tiền thuế nợ”, ông Thức nói.
Số tiền nợ nhỏ nhưng rủi ro lớn
Dù khoản nợ không lớn, nhưng hậu quả phát sinh từ việc bỏ địa chỉ kinh doanh còn nghiêm trọng hơn chính số tiền nợ thuế từ 1 triệu đồng.
Luật sư Lê Thị Hồng Vân
Đề cập đến sự rủi ro khi người nộp thuế bị hoãn xuất cảnh do nợ thuế, luật sư Lê Thị Hồng Vân, Giám đốc Công ty Luật TNHH Labor Law cho rằng, việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh gây ra hệ quả pháp lý và hệ lụy thực tế rất đáng kể. Đầu tiên là quyền tự do đi lại, một trong những quyền cơ bản của công dân.
“Đối với cá nhân thường xuyên đi công tác, ký kết hợp đồng hoặc có kế hoạch ra nước ngoài nhưng bị cấm xuất cảnh thì thiệt hại đầu tiên là mất tiền làm visa, tiền vé máy bay, tiền đặt khách sạn bởi vì ngay tại cửa khẩu đã bị cấm xuất cảnh. Tiếp đến là mất cơ hội hợp tác kinh doanh vì không xuất cảnh được để ký hợp đồng với đối tác nước ngoài”, luật sư Lê Thị Hồng Vân nói.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bị hoãn xuất cảnh, luật sư Lê Thị Hồng Vân cho rằng hậu quả còn lớn hơn, vì việc bị cấm xuất cảnh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động điều hành, đàm phán đầu tư, huy động vốn hoặc giao dịch quốc tế của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến thiệt hại lớn về kinh tế, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.
Với những trường hợp thay đổi địa chỉ, chuyển văn phòng hoặc chấm dứt hoạt động nhưng không hoàn tất thủ tục cập nhật đăng ký kinh doanh và thông báo với cơ quan thuế, khi cơ quan thuế kiểm tra và xác định “không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký”, doanh nghiệp có thể bị khóa mã số thuế, hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế, trong đó có đề nghị tạm hoãn xuất cảnh đối với người đại diện pháp luật.
“Dù khoản nợ không lớn, nhưng hậu quả phát sinh từ việc bỏ địa chỉ kinh doanh còn nghiêm trọng hơn chính số tiền nợ thuế từ 1 triệu đồng”, luật sư Lê Thị Hồng Vân nói.
Với những rủi ro trên đây, luật sư Lê Thị Hồng Vân cho rằng, người nộp thuế cần chủ động tiếp cận các quy định pháp luật, kinh doanh minh bạch, thông báo kịp thời những thay đổi từ địa chỉ kinh doanh, tuân thủ nghĩa vụ nộp tiền thuế và kết nối thường xuyên với cán bộ thuế để nắm bắt các quy định mới.
“Khi thay đổi địa chỉ trụ sở, địa điểm kinh doanh hoặc tạm ngừng, chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp cần thực hiện ngay thủ tục thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp đồng thời thông báo với cơ quan thuế theo đúng thời hạn luật định. Đây là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng trên thực tế lại là lỗi rất phổ biến vì những lý do khách quan, chủ quan khác nhau như không có kế toán hoặc cán bộ kế toán, không có người phụ trách mảng này, nghĩ đơn giản không hoạt động thì chấm dứt, không cần kê khai…”, luật sư Lê Thị Hồng Vân nói.
Vị luật sư này cũng khuyến cáo, người nộp thuế cần liên lạc thường xuyên với cơ quan thuế, bao gồm email, số điện thoại… của cán bộ thuế, tham gia và theo dõi trong các nhóm (zalo) do cán bộ thuế lập ra để biết tình hình kê khai thuế hoặc những quy định pháp luật mới nhất.
“Theo tôi, doanh nghiệp nên có một nhân viên thực hiện việc kê khai thuế, có thể thuê theo quý ngay cả khi doanh nghiệp không phát sinh hoạt động. Thực tế có nhiều hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp nghĩ rằng không kinh doanh thì không cần kê khai, dẫn đến không nộp tờ khai, chậm nộp tờ khai, chậm hoặc nợ tiền thuế”, luật sư Lê Thị Hồng Vân nói.
Đối với người đại diện theo pháp luật, hoặc chủ hộ kinh doanh thường xuyên đi nước ngoài, luật sư Lê Thị Hồng Vân khuyến cáo, nên kiểm tra tình trạng nghĩa vụ thuế trước các chuyến công tác quan trọng để tránh phát sinh rủi ro tại cửa khẩu. Nếu phát sinh tranh chấp hoặc có căn cứ cho rằng quyết định cưỡng chế, tạm hoãn xuất cảnh chưa phù hợp, người nộp thuế có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.