TS. Lê Xuân Nghĩa. Chuyên gia kinh tế

TS. Lê Xuân Nghĩa. Chuyên gia kinh tế

Tạo “luồng xanh” cho đầu tư tư nhân

(ĐTCK) Số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quy mô vốn đăng ký vẫn ghi nhận những cải thiện nhất định, song điều đáng lo ngại hiện nay là sự suy giảm rõ rệt của đầu tư khu vực tư nhân.

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững không thể chỉ dựa vào đầu tư công hay khu vực FDI, mà phải dựa trên động lực của khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Khi doanh nghiệp tư nhân không muốn đầu tư, không dám vay vốn và không sẵn sàng mở rộng sản xuất, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ không thể đạt được chỉ bằng khẩu hiệu điều hành hay các mệnh lệnh hành chính.

Điều đáng lo là tình trạng này không chỉ diễn ra trong ngắn hạn mà có nguy cơ kéo dài sang cả năm sau, ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thực hiện các mục tiêu tăng trưởng của giai đoạn 2026 - 2030.

Điểm nghẽn lớn nhất: Thể chế và kỹ thuật điều hành

Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến đầu tư tư nhân suy giảm nằm ở những hạn chế của môi trường thể chế và quá trình thực thi chính sách. Nói cách khác, yêu cầu đặt ra hiện nay là tiếp tục thúc đẩy mạnh hơn quá trình chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo phát triển.

Thời gian qua, cải cách thủ tục hành chính đã đạt nhiều kết quả tích cực, song trên thực tế, doanh nghiệp vẫn phải dành không ít nguồn lực cho các thủ tục giải trình, xin phép, hoàn thiện hồ sơ và đáp ứng nhiều quy định chồng chéo. Điều này làm gia tăng chi phí hoạt động và ảnh hưởng đến động lực mở rộng đầu tư.

Điều cộng đồng doanh nghiệp quan tâm không chỉ là khó khăn của thị trường, mà còn là tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường chính sách. Khi mức độ chắc chắn của môi trường kinh doanh chưa cao, doanh nghiệp thường có xu hướng thận trọng hơn trong kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất và sử dụng vốn vay.

Nguyên nhân thứ hai là mặt bằng lãi suất vẫn ở mức tương đối cao so với sức chịu đựng của khu vực sản xuất - kinh doanh. Với chi phí vốn hiện nay, nhiều doanh nghiệp cân nhắc kỹ trước các quyết định đầu tư mới, bởi hiệu quả đầu tư có thể bị thu hẹp đáng kể khi chi phí tài chính tăng cao.

Nhiều ý kiến cho rằng áp lực lãi suất chủ yếu đến từ kỳ vọng lạm phát. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng khác là kỹ thuật điều hành chính sách và sự phối hợp giữa các công cụ quản lý.

Trong thời gian qua, thị trường từng quan tâm tới đề xuất điều chỉnh cách tính một số khoản tiền gửi trong xác định tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, với việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, cơ chế tính toán đã được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn.

Theo quy định mới, khi xác định nguồn vốn huy động để tính tỷ lệ LDR, các ngân hàng thương mại sẽ được cộng cả 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ LDR.

Cách tiếp cận này được đánh giá là góp phần giảm áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, qua đó hỗ trợ mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất.

Bên cạnh đó, việc Kho bạc Nhà nước điều tiết dòng tiền ngân quỹ, cùng những thay đổi liên quan đến hóa đơn điện tử, nghĩa vụ thuế đối với hộ kinh doanh và hoạt động thanh tra, kiểm tra… cũng ảnh hưởng nhất định tới dòng tiền trong nền kinh tế và tâm lý nắm giữ tiền mặt của khu vực dân cư, hộ kinh doanh.

Điều này cho thấy bài toán hiện nay không chỉ nằm ở lạm phát hay tỷ giá, mà còn liên quan đến sự phối hợp chính sách và tính đồng bộ trong quá trình thực thi.

Không thể hạ lãi suất bằng mệnh lệnh hành chính

Muốn giảm mặt bằng lãi suất một cách bền vững, không thể chỉ dựa vào các yêu cầu hành chính đối với hệ thống ngân hàng. Lãi suất chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố như thanh khoản hệ thống, kỳ vọng lạm phát, tỷ giá, niềm tin thị trường, cũng như hiệu quả phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ.

Những nội dung thuộc thẩm quyền tài khóa cần được Bộ Tài chính xử lý đồng bộ; các vấn đề liên quan đến điều hành tiền tệ cần được Ngân hàng Nhà nước điều tiết linh hoạt bằng các công cụ phù hợp; trong khi môi trường pháp lý cho doanh nghiệp cũng cần tiếp tục được các bộ, ngành cải thiện theo hướng minh bạch và thuận lợi hơn.

Chủ trương từng bước tập trung tiền gửi Kho bạc Nhà nước về Ngân hàng Trung ương là phù hợp với thông lệ quốc tế và mục tiêu nâng cao hiệu quả điều hành ngân quỹ. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần có lộ trình hợp lý nhằm hạn chế tác động mạnh tới thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Tăng trưởng kinh tế phải được xây dựng trên nền tảng của niềm tin, thể chế thông thoáng và một môi trường đầu tư hấp dẫn.

Tăng trưởng kinh tế phải được xây dựng trên nền tảng của niềm tin, thể chế thông thoáng và một môi trường đầu tư hấp dẫn.

Việc ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN theo hướng vẫn cho phép tính một phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động được xem là bước điều chỉnh theo hướng hài hòa hơn giữa mục tiêu quản lý và yêu cầu ổn định thị trường tiền tệ.

Một vấn đề khác cũng cần được nhìn lại là cơ chế điều hành hạn mức tín dụng. Tôi cho rằng đã đến lúc phải bỏ tư duy “room tín dụng” như một dạng giấy phép con. Đầu năm giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, giữa năm xem xét nới room, cuối năm tiếp tục cấp thêm hạn mức - đó là cách điều hành nặng tính hành chính và không phù hợp với thông lệ quốc tế.

Các nền kinh tế hiện đại không điều hành bằng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mà điều hành bằng tăng trưởng cung tiền. Ngân hàng trung ương kiểm soát cung tiền, lãi suất, thanh khoản hệ thống và các chỉ tiêu an toàn vĩ mô.

Còn tín dụng phải vận hành theo tín hiệu thị trường, theo các chỉ tiêu an toàn và năng lực quản trị rủi ro của từng tổ chức tín dụng.

Ví dụ, năm trước, cung tiền tăng 14,9%, năm nay muốn hỗ trợ tăng trưởng cao hơn thì có thể điều chỉnh lên 15,5 - 16%. Điều quan trọng là kiểm soát tổng lượng tiền trong nền kinh tế, chứ không phải cấp hạn ngạch tín dụng cho từng ngân hàng.

Bên cạnh đó là các công cụ kiểm soát an toàn như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu, kiểm soát thanh khoản…, chứ không phải cơ chế xin - cho về room tín dụng. Nếu không thay đổi tư duy điều hành này, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục bị tắc nghẽn bởi những nút thắt hành chính, thay vì vận hành theo nguyên tắc thị trường.

Đầu tư tư nhân và bất động sản phải trở lại vai trò động lực

Nói đến tăng trưởng mà không nhìn đúng vai trò của thị trường bất động sản là một thiếu sót lớn trong tư duy chính sách. Hiện nay, tăng trưởng đang dựa rất nhiều vào đầu tư công: đường cao tốc, sân bay, cảng biển, logistics, các dự án hạ tầng lớn. Nhưng đầu tư công chỉ thực sự tạo ra hiệu ứng lan tỏa khi nó kéo theo phát triển đô thị, bất động sản và các ngành ăn theo.

Nếu chỉ có đường mà không có đô thị phát triển dọc các tuyến giao thông đó, hiệu quả lan tỏa sẽ rất hạn chế. Hạ tầng giao thông phải đi cùng với phát triển không gian đô thị mới, khu công nghiệp mới, trung tâm dịch vụ mới và thị trường bất động sản mới.

Bất động sản không chỉ là câu chuyện nhà đất. Nó kéo theo vật liệu xây dựng, nội thất, điện gia dụng, tài chính, tiêu dùng và hàng loạt ngành nghề khác. Đây là khu vực hấp thụ vốn rất lớn và có sức lan tỏa mạnh nhất đối với tăng trưởng.

Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện chưa đủ mạnh về công nghệ để cạnh tranh sâu trên thị trường quốc tế. Một trong số ít lĩnh vực mà họ có thể đầu tư quy mô lớn chính là phát triển đô thị và bất động sản. Nếu cứ siết lĩnh vực này bằng một cái nhìn quá hẹp và thiên về phòng ngừa rủi ro mà không nhìn thấy vai trò động lực tăng trưởng, thì đầu tư tư nhân sẽ tiếp tục suy giảm.

Đây là cách tiếp cận cần phải thay đổi.

Tương tự, nhiều yêu cầu về quản lý thuế, hóa đơn điện tử và thủ tục tài chính hiện nay cũng đang tạo áp lực rất lớn lên hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ. Ví dụ, mức doanh thu chịu các nghĩa vụ quản lý tài chính hiện nay được nâng từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng, nhưng trên thực tế vẫn là quá thấp.

Một quán phở bình thường, doanh thu một năm đã có thể đạt 1,5 - 2 tỷ đồng, nhưng nếu yêu cầu mọi đầu vào như hành, tỏi, rau, thịt mua ngoài chợ đều phải có hóa đơn điện tử thì gần như không khả thi.

Khi doanh nghiệp tư nhân không muốn đầu tư, không dám vay vốn và không sẵn sàng mở rộng sản xuất, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ không thể đạt được chỉ bằng khẩu hiệu điều hành hay các mệnh lệnh hành chính.

Khi quản lý được thiết kế theo cách quá cứng nhắc, nó không tạo ra minh bạch mà tạo ra nỗi sợ.

Kết quả là rất nhiều hộ kinh doanh chọn cách thu hẹp hoạt động, giữ tiền mặt, mua vàng hoặc đứng ngoài hệ thống ngân hàng thay vì mở rộng đầu tư. Đây là tổn thất rất lớn cho nền kinh tế.

Một vấn đề có liên quan là áp lực tỷ giá hiện nay cũng cần được nhìn nhận đúng bản chất. Một phần đến từ giá dầu và đồng USD mạnh lên, nhưng phần lớn nằm ở nguy cơ thâm hụt thương mại quay trở lại, đặc biệt khi Mỹ có thể áp dụng chính sách thuế quan chặt chẽ hơn với Việt Nam.

Chúng ta không thể tiếp tục duy trì trạng thái thặng dư thương mại quá lớn với một thị trường duy nhất mà không tính đến rủi ro chính sách. Khi thặng dư thương mại với Mỹ đã ở mức rất lớn so với quy mô GDP, việc Mỹ siết lại là nguy cơ hiển hiện.

Việt Nam phải chủ động tìm kiếm thị trường thay thế, kể cả thị trường Trung Quốc, nhưng không phải theo cách nhập nguyên liệu rồi xuất ngược trở lại, mà phải làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là nông sản chế biến xanh, sạch và bền vững.

Về dài hạn, áp lực tỷ giá sẽ không quá lớn vì đồng USD gắn chặt với biến động giá dầu. Khi giá dầu hạ nhiệt, áp lực mất giá của tiền đồng cũng sẽ giảm. Đây là nền tảng quan trọng để kiểm soát lạm phát nhập khẩu và từng bước ổn định lãi suất.

Muốn kiểm soát lạm phát bền vững, Việt Nam phải thúc đẩy đầu tư vào năng lượng tái tạo, từng bước thị trường hóa giá năng lượng để tạo động lực cho khu vực tư nhân đầu tư vào điện gió, điện mặt trời. Đây không chỉ là câu chuyện năng lượng mà còn là chiến lược chống lạm phát dài hạn.

Tóm lại, tăng trưởng kinh tế không thể dựa vào mệnh lệnh hành chính mà phải được xây dựng trên nền tảng của niềm tin, thể chế thông thoáng, chính sách tiền tệ chuẩn xác và một môi trường đầu tư đủ hấp dẫn để doanh nghiệp tư nhân dám bỏ vốn, dám mở rộng và dám chấp nhận rủi ro.

Chỉ khi khu vực tư nhân thực sự trở lại vị trí động lực trung tâm của nền kinh tế, mục tiêu tăng trưởng cao mới có cơ sở thực chất để hiện thực hóa.

Tin bài liên quan