Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 19-26/9: Vàng chịu nhiều sức ép, dầu thô biến động dữ dội

Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 19-26/9: Vàng chịu nhiều sức ép, dầu thô biến động dữ dội

(ĐTCK) Kết thúc tuần giao dịch từ 19-26/9, căng thăng Trung Đông chưa có dấu hiệu hạ nhiệt khiến giá dầu tiếp tục biến động rất mạnh; vàng giảm khoảng 2,1% dưới sức ép của đồng USD, lợi suất trái phiếu Mỹ và chính sách tiền tệ thắt chặt của Fed; trong khi các mặt hàng nông sản và nguyên liệu công đa phần diễn biến tích cực.

Năng lượng: Dầu thô diễn biến trái chiều; khí gas, xăng, dầu đốt và than tiếp tục neo cao

Trên thị trường dầu thô, trong tuần qua, nhà đầu tư liên tục điều chỉnh kỳ vọng về nguồn cung Trung Đông. Các thông tin liên quan đến chiến sự Mỹ - Iran, khả năng mở lại eo biển Hormuz, việc Ả Rập Xê-út khôi phục hoạt động xuất khẩu và các cuộc tấn công của lực lượng Houthi khiến giá dầu liên tục đảo chiều trong từng phiên.

Ngày 21/9, dầu Brent giảm 3,4% xuống 100,34 USD/thùng, trong khi dầu WTI giảm 4,51% xuống 95,78 USD/thùng - đều là những mức thấp nhất kể từ ngày 9/9/2026. Áp lực giảm xuất hiện trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Mỹ và Iran có thể nối lại đối thoại bên lề Đại hội đồng Liên hợp quốc. Đồng thời, Saudi Aramco tăng lượng dầu vận chuyển qua Hormuz và đường ống Đông - Tây được khôi phục, làm giảm phần nào lo ngại về cú sốc nguồn cung.

Sang ngày 22/9, dầu Brent có lúc xuống 98,23 USD/thùng, còn dầu WTI tháng 11/2026 xuống 90,01 USD/thùng. Thị trường phản ứng với thông tin Ả Rập Xê-út chuẩn bị nối lại xuất khẩu dầu từ cảng Yanbu ở Biển Đỏ sau khi khôi phục đường ống Đông - Tây. Iran cũng phát tín hiệu có thể mở lại eo biển Hormuz trong 7 ngày nếu Mỹ giảm áp lực quân sự và dỡ phong tỏa các cảng của Iran.

Tuy nhiên, thị trường nhanh chóng đảo chiều ngày 23/9 khi Tổng thống Masoud Pezeshkian tuyên bố Iran không đầu hàng trước sức ép của Mỹ. Dầu Brent tăng 3,86% lên 103,08 USD/thùng và dầu WTI tăng 1,81% lên 92,16 USD/thùng.

Ngày 24/9, giá dầu tăng mạnh hơn sau khi lực lượng Houthi được Iran hậu thuẫn phóng tên lửa nhằm vào Ả Rập Xê-út. Dầu Brent tăng 3,4% lên 106,6 USD/thùng, dầu WTI tăng 2,7% lên 94,61 USD/thùng và có thời điểm cả 2 hợp đồng tăng khoảng 5%. Ả Rập Xê-út cho biết đã đánh chặn 6 tên lửa đạn đạo nhằm vào khu vực Taif và Yanbu, làm sống lại lo ngại cơ sở dầu mỏ và các tuyến xuất khẩu của nước này tiếp tục nằm trong tầm tấn công.

Giá dầu giảm mạnh trong phiên cuối tuần khi các nhà đầu tư đặt nhiều kỳ vọng hơn vào khả năng Mỹ và Iran đạt được một thỏa thuận nhằm giảm căng thẳng. Kết thúc phiên 25/9, giá dầu Brent giảm 2,28 USD (-2,1%) xuống 104,32 USD/thùng, trong khi dầu WTI giảm 2,2 USD (-2,3%) về 92,41 USD/thùng. Tính chung cả tuần, dầu Brent tăng 0,4%, trong khi dầu WTI giảm 7,9%.

Chênh lệch giữa Brent và WTI có thời điểm lên 12,68 USD/thùng, mức lớn nhất kể từ tháng 5/2029. Sự khác biệt này phản ánh tác động không đồng nhất của rủi ro Trung Đông đối với hai chuẩn dầu, khi Brent được hỗ trợ bởi rủi ro nguồn cung quốc tế, còn WTI chịu thêm những yếu tố riêng của thị trường Mỹ.

Một yếu tố khác đáng chú ý là hoạt động chuyển dầu từ tàu sang tàu gần Oman ngày càng tăng. Khối lượng dầu được chuyển theo phương thức này trong tháng 9 lên khoảng 2,5 triệu thùng/ngày, so với 1,4 triệu thùng/ngày trong tháng 8. Trong khi đó, dữ liệu Kpler cho thấy 33,7 triệu thùng dầu thô đã được xuất khẩu qua Hormuz tính đến thời điểm hiện tại của tuần bắt đầu ngày 20/9, tương đương tuần trước; cả tuần trước đó có 49,2 triệu thùng đi qua tuyến đường này.

Trái ngược với đà giảm của dầu thô, giá khí gas tự nhiên tại Mỹ nhích tăng 0,87% lên 3,0492 USD/MMBtu, chạm mức cao nhất kể từ ngày 8/7/2026. So với 1 tuần trước và 1 tháng trước, giá khí gas lần lượt tăng 5,11% và 8,09%.

Đối với các sản phẩm tinh chế, giá xăng tương lai tại Mỹ duy trì ở mức 3,5863 USD/gallon (giảm nhẹ 0,02% trong ngày), neo gần mức đỉnh tính từ giữa tháng 5/2026. So với 1 tháng trước, giá xăng tăng 10,29%; so với đầu năm tăng 109,7% và tăng 72,46% so với cùng kỳ năm ngoái. Áp lực gia tăng do tồn kho xăng của Mỹ bất ngờ giảm 1,7 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 18/9/2026.

Đáng chú ý, giá dầu đốt tăng 1,47% trong ngày lên 4,8468 USD/gallon, phục hồi lên trên mốc 4,8 USD/gallon. Tính từ đầu năm, giá dầu đốt đã tăng mạnh 128,29% và cao hơn 102,87% so với cùng kỳ năm ngoái, dù có đợt giảm 5,3% so với một tuần trước. Tình trạng thắt chặt nguồn cung dầu đốt diễn ra khi tồn kho sản phẩm chưng cất của Mỹ giảm 400.000 thùng (thấp hơn 12% so với mức trung bình 5 năm) và sản lượng bình quân giảm xuống 5,2 triệu thùng/ngày.

Tại thị trường than đá, giá than nhiệt xuất khẩu từ Úc giảm 0,48% về 144,7 USD/tấn, rời khỏi mức đỉnh 3 tháng là 149 USD/tấn ghi nhận ngày 7/9/2026, nhưng vẫn tăng 10,04% so với tháng trước, tăng 34,6% từ đầu năm và tăng 40,35% so với cùng kỳ năm trước. Việc Trung Quốc chỉ đạo các mỏ trong nước tăng sản lượng đã giúp hạ nhiệt giá than, dù nhu cầu tại Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn ở mức cao do xu hướng chuyển từ khí LNG sang nhiệt điện than.

Kim loại: Vàng chịu nhiều sức ép; đồng giữ vững nhịp tăng; quặng sắt và thép yếu đà

Ở nhóm kim loại quý, vàng trải qua một tuần chịu sức ép từ những yếu tố thường chi phối tài sản không sinh lãi. Giá vàng giao ngay đầu tuần 21/9 ở mức 4.383 USD/ounce. Kim loại quý này có thời điểm tăng giá khi thị trường theo dõi các diễn biến tại Trung Đông và rủi ro liên quan đến eo biển Hormuz. Giá vàng lên mức cao nhất tuần 4.387 USD/ounce, sau đó quay đầu giảm. Thị trường khi đó định giá khoảng 88% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất vào tháng 12/2026.

Ngày 22/9, vàng giao ngay tiếp tục giảm 0,4% về 4.325,03 USD/ounce, vàng tương lai tháng 12/2026 giảm 0,5% xuống 4.362 USD/ounce. Thị trường lúc này định giá tới 90% khả năng Fed tăng lãi suất vào tháng 12. Đến ngày 23/9, vàng giao ngay có lúc giảm 1,7% về 4.282,53 USD/ounce - thấp nhất kể từ ngày 17/9/2026, trong khi vàng tương lai giảm 1,3% về 4.318,4 USD/ounce.

Ngày 24/9, vàng giao ngay giảm tiếp 0,5% xuống 4.265,50 USD/ounce và có lúc chạm mức thấp nhất kể từ ngày 16/9/2026; vàng tương lai giảm 0,5% xuống 4.298 USD/ounce. Giá dầu tăng khoảng 2% sau vụ tấn công bằng tên lửa của Houthi nhằm vào Ả Rập Xê-út làm xuất hiện thêm lo ngại lạm phát năng lượng, qua đó củng cố kỳ vọng Fed phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt. Lực mua bắt đáy sau đó giúp giá vàng phục hồi nhẹ.

Kết thúc phiên 25/9, giá vàng giao ngay tăng 0,6% lên 4.303,19 USD/ounce, nhưng vẫn giảm khoảng 2,1% cả tuần. Tương tự, hợp đồng vàng tương lai tháng 12/2026 tăng 1% lên 4.339 USD/ounce và giảm 2,3% cả tuần.

Đằng sau nhịp giảm của vàng là sự kết hợp của 4 yếu tố: Fed chuyển sang thông điệp lãi suất “cao hơn trong thời gian dài hơn”, lợi suất trái phiếu Mỹ tăng, USD mạnh lên và giá năng lượng làm gia tăng lo ngại lạm phát. Vì vậy, vùng 4.300 USD/ounce trở thành mốc kỹ thuật đáng chú ý. Dù vàng đã giảm hơn 22% so với đỉnh lịch sử 5.594,82 USD/ounce thiết lập hồi tháng 1/2026, nhưng nhu cầu từ ngân hàng trung ương và xu hướng tìm kiếm tài sản cứng vẫn được xem là những yếu tố có thể tạo nền tảng cho vàng.

Về các kim loại quý khác, trong phiên 25/9, giá bạc giao ngay tăng 1,4% lên 64,82 USD/ounce; bạch kim tăng 1,7% lên 1.777,38 USD/ounce; trong khi palladium giảm 0,4% xuống 1.269,77 USD/ounce. Tính cả tuần, cả 3 kim loại quý này đều giảm giá.

Ở nhóm kim loại màu, đồng tiếp tục nổi bật với tuần tăng giá thứ hai liên tiếp. Ngày 25/9, đồng kỳ hạn 3 tháng trên sàn London (LME) tăng khoảng 0,08% lên 14.632 USD/tấn, đưa mức tăng so với cuối tuần trước lên 0,76%. Trong phiên đầu tuần 21/9, đồng tăng 1% lên 14.661 USD/tấn.

Động lực quan trọng đến từ nguồn cung vật chất tại Trung Quốc. Tồn kho đồng tại các kho do sàn Thượng Hải (SHFE) theo dõi giảm 15,9% trong một tuần xuống 47.147 tấn. Hoạt động bảo dưỡng tại các nhà máy luyện đồng cũng làm nguồn cung kim loại tinh luyện thắt chặt hơn. Chênh lệch giá đồng giao ngay và kỳ hạn 3 tháng trên LME chuyển sang backwardation (người mua trả giá cao để mua ngay) 124,75 USD/tấn, so với mức chênh 68,93 USD/tấn chỉ một ngày trước đó, cho thấy nhu cầu đối với đồng giao ngay đang tăng.

Dù vậy, đồng vẫn chịu những phiên điều chỉnh khi USD tăng và thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục nâng lãi suất. Ngày 23/9, giá đồng giảm 0,9% xuống 14.618 USD/tấn, chấm dứt chuỗi tăng 6 phiên. Trong khi đó, việc hoạt động tại mỏ Escondida ở Chile, mỏ đồng lớn nhất thế giới, bị đình chỉ sau một vụ tai nạn khiến tâm lý lo thiếu nguồn cung càng được củng cố.

Kẽm cũng tăng 1,49% so với cuối tuần trước, với riêng phiên cuối tuần tăng khoảng 0,59%. Thông tin Nyrstar đánh giá chiến lược hoạt động luyện kẽm tại Hà Lan khiến thị trường lo ngại nguồn cung kim loại tinh luyện có thể thu hẹp. Backwardation của kẽm giao ngay so với kỳ hạn 3 tháng trên LME tăng lên 106 USD/tấn, từ 65,35 USD/tấn một ngày trước đó.

Nhôm cũng kết thúc tuần trong sắc xanh. Trong phiên 25/9, nhôm LME tăng khoảng 0,43%; dữ liệu LME cho thấy giá kỳ hạn 3 tháng đạt khoảng 3.267 USD/tấn, trong khi giá cash khoảng 3.254 USD/tấn. Tuy nhiên, kim loại này vẫn chịu tác động từ sức mạnh của USD, lạm phát và rủi ro vận chuyển kim loại từ khu vực vùng Vịnh.

Ở chiều ngược lại, nickel và chì yếu hơn. Nickel kỳ hạn 3 tháng trên LME ngày 25/9 ở khoảng 16.230 USD/tấn, sau khi giảm 0,43% trong ngày. Chì kỳ hạn 3 tháng ở khoảng 1.929 USD/tấn, giảm 0,08% trong ngày. Nickel từng được hỗ trợ bởi tình trạng thiếu nước tại Indonesia Morowali Industrial Park, nhưng thị trường chưa cho rằng cú sốc nguồn cung này đủ lớn để hình thành xu hướng tăng bền vững.

Ở nhóm kim loại đen, giá thép thanh kỳ hạn tháng 10/2026 trên SHFE giữ ở 3.050 CNY/tấn, trong khi quặng sắt cùng kỳ hạn trên sàn Đại Liên (DCE) – Trung Quốc duy trì ở 717 CNY/tấn. Trên sàn SGX (Singapore), quặng sắt kỳ hạn tháng 10/2026 giảm 0,6 USD (-0,63%) xuống 95 USD/tấn. Các sàn giao dịch hàng hóa Trung Quốc đóng cửa nghỉ Tết Trung thu trong ngày 25/9 và sẽ hoạt động trở lại ngày 28/9.

Theo số liệu của Worldsteel, sản lượng thép thô toàn cầu trong tháng 8/2026 đạt 144,2 triệu tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước và giảm 3,3% so với tháng trước đó. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu với 74,6 triệu tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ. Ấn Độ đạt 14,8 triệu tấn, tăng 4,6%; Mỹ 7,3 triệu tấn, tăng 3%; Nhật Bản 6,7 triệu tấn, tăng 0,4%; Nga 5,5 triệu tấn, giảm 0,3%; Hàn Quốc 5,4 triệu tấn, tăng 2,6%.

Trong nhóm các nhà sản xuất lớn tiếp theo, Thổ Nhĩ Kỳ đạt 3,4 triệu tấn, giảm 0,4%; Brazil 2,7 triệu tấn, giảm 6,2%; Việt Nam 2,7 triệu tấn, tăng mạnh 36,4%; Đức 2,6 triệu tấn, tăng 1,7%. Tính chung 8 tháng đầu năm, sản lượng thép thô toàn cầu đạt 1,22 tỷ tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Nông sản: Giá lúa mì giảm, ngô và đậu tương trụ vững

Giá lúa mì kỳ hạn giảm xuống còn khoảng 7 USD/bushel, chạm mức thấp nhất kể từ ngày 25/8, dưới áp lực từ các nỗ lực ngoại giao mới nhằm khôi phục tuyến vận tải biển Đen. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy xác nhận các cuộc thảo luận với Tổng thống Mỹ Donald Trump đang tập trung vào việc chấm dứt xung đột, bao gồm khả năng thiết lập thỏa thuận ngừng bắn song phương nhắm vào hạ tầng năng lượng.

Kyiv bày tỏ sự sẵn sàng xem xét cơ chế ngừng bắn năng lượng với Moscow, dù chưa có thảo luận về việc đơn phương ngưng tập trung vào các nhà máy lọc dầu của Nga. Xung đột trước đó đã khiến chuỗi cung ứng bị đứt gãy, buộc người mua tìm kiếm nguồn thay thế. Trong khi đó, báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho biết, tiến độ gieo trồng lúa mì mùa đông tại Mỹ mới đạt 17%, thấp hơn mức trung bình 5 năm là 21%.

Giá ngô kỳ hạn tiếp tục duy trì vững chắc trên mốc 5,4 USD/bushel, neo gần vùng đỉnh cao nhất kể từ tháng 7/2023 nhờ lực hỗ trợ kép từ nhu cầu xuất khẩu bùng nổ của Mỹ và bài toán thắt chặt nguồn cung toàn cầu. Dữ liệu ghi nhận khối lượng ngô xuất khẩu của Mỹ trong tuần kết thúc ngày 17/9/2026 đã tăng 40% so với cùng kỳ, đạt 1,94 triệu tấn và vượt xa tiến độ của niên vụ trước.

Mặc dù mưa lớn tại vùng Trung Tây làm chậm tạm thời tiến độ thu hoạch và thắt chặt nguồn cung ngắn hạn, các yếu tố cơ bản dài hạn vẫn giữ vai trò chủ đạo khi báo cáo của USDA cảnh báo mức thâm hụt kỷ lục gần 30 triệu tấn giữa sản lượng và tiêu thụ ngô toàn cầu trong niên vụ 2026-2027. Thị trường hiện đang dồn toàn bộ sự chú ý vào kết quả từ cuộc gặp cấp cao Mỹ - Trung để tìm kiếm tín hiệu mới về thương mại nông sản.

Giá đậu nành kỳ hạn tiếp tục duy trì ổn định trên mốc 13 USD/bushel, bám sát ngưỡng cao nhất trong gần 3 năm qua. Động lực chính nâng đỡ thị trường đến từ làn sóng mua vào ổn định của Trung Quốc (đã vượt mốc một nửa cam kết thu mua 25 triệu tấn hàng năm) và tâm lý chờ đợi các quyết sách mang tính bước ngoặt từ cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình.

Doanh số xuất khẩu gần đây của Mỹ vẫn duy trì ổn định ở mức khoảng 1,7 triệu tấn, chủ yếu phục vụ nhu cầu từ thị trường tỷ dân. Trong khi đó, thị trường cũng đang theo dõi sát sao tiến độ đồng áng tại vùng Trung Tây Mỹ bị ảnh hưởng bởi mưa lớn, cũng như bước khởi động của vụ mùa 2026-2027 tại Brazil với kỳ vọng đạt sản lượng kỷ lục mới.

Nguyên liệu công nghiệp: Đa phần tăng giá

Giá dầu cọ kỳ hạn của Malaysia tiếp tục dao động vững chắc trên mốc 4.850 MYR/tấn, duy trì đà tăng kể từ giữa tháng 8/2026 nhờ sức hút mạnh mẽ từ phân khúc dầu thực vật. Động lực nâng đỡ giá đến từ chi phí nguyên liệu sinh học tăng rộng khắp (cả dầu cọ và dầu đậu nành), kết hợp với rủi ro địa chính trị leo thang ở Trung Đông và lo ngại nguồn cung dầu thô từ Ả Rập Xê-út sụt giảm, qua đó thúc đẩy nhu cầu chuyển dịch sang nhiên liệu sinh học thay thế. Thêm vào đó, chính sách B50 biodiesel của Indonesia được kỳ vọng sẽ chuyển hướng lượng lớn dầu cọ sang tiêu thụ nội địa.

Tại Ấn Độ, nhu cầu nhập khẩu dầu cọ trong tháng 8/2026 tăng 7% so với tháng trước đó (đạt 782.761 tấn - mức cao nhất từ tháng 2/2026) khi các nhà máy lọc dầu đẩy mạnh dự trữ đón mùa lễ hội. Malaysia cũng vừa nâng giá tham chiếu dầu cọ thô tháng 10/2026, nhưng giữ nguyên thuế xuất khẩu ở mức 10%. Song song đó, kịch bản về hiện tượng El Nino mạnh tiếp tục đe dọa trực tiếp đến triển vọng sản lượng của hai nhà sản xuất lớn là Malaysia và Indonesia.

Thị trường cà phê phục hồi mạnh khi đồng USD suy yếu kích hoạt hoạt động mua bù vị thế bán khống của các quỹ đầu tư. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2026 trên sàn London tăng 2,34% lên 3.367 USD/tấn, hợp đồng tháng 1/2027 tăng 2,14% lên 3.342 USD/tấn. Trên sàn New York, cà phê arabica giao tháng 12/2026 tăng 1,18% lên 278,6 US cent/pound, hợp đồng tháng 3/2027 tăng 1,3% lên 271,25 US cent/pound.

Triển vọng cung toàn cầu cũng khá dồi dào. ICO dự báo sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2025-2026 tăng 4,4% lên mức kỷ lục 183,6 triệu bao, trong khi tiêu thụ giảm 0,9% xuống 180,6 triệu bao, khiến thị trường dư thừa khoảng 3 triệu bao và lần đầu tiên rơi vào tình trạng dư cung sau 4 năm. Tuy nhiên, tồn kho arabica do sàn ICE giám sát từng giảm xuống mức thấp nhất trong 27 năm, còn 217.646 bao, trước khi phục hồi lên 258.415 bao vào cuối tuần. Tồn kho robusta cũng tăng lên mức cao nhất trong 10 tháng, đạt 5.398 lô.

Giá ca cao kỳ hạn ghi nhận nhịp hồi phục hướng lên ngưỡng 5.500 USD/tấn, chạm mức cao nhất trong gần một tuần qua. Sức bật của mặt hàng này chủ yếu được thúc đẩy bởi hoạt động mua bù vị thế bán khống của giới đầu tư trước các dự báo thời tiết khô hạn tại Bờ Biển Ngà - quốc gia sản xuất hàng đầu. Thêm vào đó, các cuộc khảo sát ban đầu ghi nhận tỷ lệ hình thành quả non thấp hơn mức trung bình, làm gia tăng hoài nghi về triển vọng kém khả quan của vụ thu hoạch chính vừa mới khởi động trong tháng này.

Mặc dù nguồn cung ngắn hạn vẫn duy trì trạng thái dồi dào nhờ lượng tồn dư từ niên vụ 2025-2026 và tồn kho trên sàn ICE neo ở mức cao nhất 2 năm (3,43 triệu bao), bức tranh trung hạn lại kém sắc hơn rõ rệt. Các ước tính cho niên vụ 2026-2027 cho thấy sản lượng của Bờ Biển Ngà có thể sụt giảm khoảng 20% xuống 1,75 triệu tấn và Ghana giảm 13% xuống 650.000 tấn, chủ yếu do rủi ro thời tiết cực đoan và nguy cơ gia tăng cường độ gió khô Harmattan từ tháng 11 dưới tác động của hiện tượng El Nino mạnh bất thường.

Giá đường kỳ hạn tại Mỹ tiếp tục giao dịch ổn định trên ngưỡng 18 cent/pound, neo gần vùng đỉnh cao nhất kể từ tháng 4/2025 dưới áp lực lo ngại dai dẳng về nguồn cung toàn cầu. Những gián đoạn thời tiết tại châu Á và châu Âu đang làm trầm trọng thêm triển vọng thị trường, với các ước tính mới nhất xác nhận rủi ro thiếu hụt nguồn cung trong niên vụ 2026-2027. Cụ thể, sản lượng đường của Thái Lan dự báo giảm ít nhất 17%, lượng mưa gió mùa tại Ấn Độ dưới mức bình thường, trong khi Đài quan sát thị trường đường EU cảnh báo sản lượng khối này niên vụ 2026-2027 có thể sụt giảm tới 19%.

Hiện tượng El Nino mạnh cũng mang lại rủi ro thời tiết khô hạn cho các vùng sản xuất lớn. Riêng tại Brazil, triển vọng phụ thuộc lớn vào thời tiết tại khu vực Trung - Nam trọng điểm và bài toán phân bổ mía giữa sản xuất đường hay ethanol; trong đó dữ liệu Secex cho thấy xuất khẩu đường của nước này trong tháng 8 giảm 33% so với cùng kỳ, trong khi lượng xuất khẩu ethanol tăng 37%.

Bông cũng là một trong những mặt hàng có diễn biến tích cực trong tuần. Hợp đồng tháng 12/2026 kết thúc ngày 25/9 ở mức 82,71 cent/pound. Giá giao ngay bình quân tại 7 thị trường bông Mỹ trong tuần đạt 77,55 cent/pound, tăng 138 điểm so với tuần trước. Tiến độ thu hoạch theo mùa đang tạo áp lực nguồn cung gia tăng, đặc biệt tại Arizona (đã thu hoạch 39%) và Texas (lên tới 23%) tính đến tuần kết thúc ngày 20/9/2026. Thời tiết khô hạn và nắng nóng tiếp tục làm suy yếu chất lượng cây trồng tại Texas, khiến tỷ lệ đạt chuẩn tốt đến xuất sắc chỉ duy trì ở mức 34%.

Tâm lý thận trọng càng củng cố khi báo cáo doanh số xuất khẩu của USDA cho thấy khối lượng giao hàng tuần kết thúc ngày 10/9/2026 giảm xuống 71.200 kiện. Ở chiều ngược lại, bức tranh nguồn cung toàn cầu vẫn ghi nhận điểm sáng từ Brazil với sản lượng niên vụ 2025-2026 ước đạt kỷ lục 4,5 triệu tấn xơ bông, đi kèm kim ngạch xuất khẩu tháng 8 bứt phá 37,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá cao su kỳ hạn tháng 10/2026 trên sàn OSE tại Nhật Bản giảm 11,7 JPY (-2,52%) xuống 453,3 JPY/kg. Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 FOB Laem Chabang tăng 0,74 baht lên 94,6 baht/kg. Trên sàn SHFE, cao su kỳ hạn tháng 10/2026 duy trì ở mức 18.530 CNY/tấn do Trung Quốc nghỉ Tết Trung thu và sẽ giao dịch trở lại ngày 28/9.

Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 3/2027 trên OSE tăng 0,7 JPY (+0,16%) lên 451,9 JPY (2,85 USD)/kg. Tỷ giá đồng JPY giảm 0,32% so với USD xuống 158,82 JPY/USD, giúp các tài sản định giá bằng JPY trở nên rẻ hơn đối với người mua nước ngoài.

Trên sàn SGX, hợp đồng cao su tháng 12/2026 giao dịch gần nhất ở mức 249,6 US cent/kg, tăng 0,1%. Trên thị trường vật chất châu Á, giá cao su RSS3 Thái Lan được chào ở mức 94,69 baht/kg; STR20 là 85,66 baht/kg; mủ latex cô đặc 60% là 60,7 baht/kg; cao su tiêu chuẩn Malaysia SMR20 là 2,6 USD/kg.

(Nguồn: Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam, Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại, Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập)

(1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

(USD Cent/lb | 1USD = 100cent | 1lb ~ 0,45Kg | Đơn vị giao dịch: lot, 1 lot = 10 tấn).

Tin bài liên quan