Xuất khẩu điện tử, máy tính và linh kiện tháng 1/2026 tăng 57,6% so với cùng kỳ.
Theo số liệu vừa được Cục Thống kê công bố, hoạt động xuất khẩu hàng hóa trong tháng 1/2026 tiếp tục duy trì ở mức cao, mang về hơn 43 tỷ USD.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 1/2026 tăng 29,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 1,3%, chiếm 22% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 42,2%, chiếm 78,0%.
Tháng 1/2026 có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 72,4% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Xuất khẩu tăng trưởng cao nhờ vào sự tăng tốc của nhóm hàng công nghiệp chủ lực, bao gồm: Máy tính, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và phụ tùng, với mức tăng lần lượt 57,6%, 40,2%, và 29%...
Một số nhóm hàng nông, lâm, thủy sản cũng duy trì tốc độ tăng 2 con số, gồm: cà phê tăng 39,5%, thủy sản tăng 30,7%, gỗ và sản phẩm gỗ tăng 12,5%...
Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu tháng 1/2026
Giá trị (Triệu USD) |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) |
|
Các mặt hàng đạt giá trị trên 1 tỷ USD |
||
Điện tử, máy tính và linh kiện |
9.560 |
57,6 |
Điện thoại các loại và linh kiện |
5.662 |
17,3 |
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
5.428 |
40,2 |
Hàng dệt, may |
3.250 |
1,8 |
Giày dép |
2.048 |
7,8 |
Phương tiện vận tải và phụ tùng |
1.619 |
29,0 |
Gỗ và sản phẩm gỗ |
1.606 |
12,5 |
Cà phê |
1.081 |
39,5 |
Thủy sản |
1.011 |
30,7 |
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu tháng 1/2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 38,43 tỷ USD, chiếm 89,0%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 3,65 tỷ USD, chiếm 8,5%; nhóm hàng thủy sản đạt 1,01 tỷ USD, chiếm 2,3%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 0,10 tỷ USD, chiếm 0,2%.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong tháng vừa qua, với kim ngạch đạt 13,9 tỷ USD, tăng 32,5% so với cùng kỳ, xuất khẩu sang Trung Quốc 6,3 tỷ USD, tăng 70,8%, Hàn Quốc 2,7 tỷ USD, tăng 17,9%, Nhật Bản 2,5 tỷ USD, tăng 17,8%, ASEAN 3,5 tỷ USD, tăng 24,4%...
Chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu tháng 1/2026 đạt 44,97 tỷ USD, tăng 49,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 18,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 66,8%. Cả nước có 8 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 64,9% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 1 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 37,0%).
Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu tháng 1/2026
Giá trị (Triệu USD) |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) |
|||
Các mặt hàng đạt giá trị trên 1 tỷ USD |
||||
Điện tử, máy tính và linh kiện |
16.627 |
70,7 |
||
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
5.875 |
47,2 |
||
Vải |
1.287 |
19,2 |
||
Kim loại thường khác |
1.171 |
56,4 |
||
Chất dẻo |
1.110 |
26,9 |
||
Ô tô |
1.057 |
98,0 |
||
Sắt thép |
1.033 |
50,1 |
||
Sản phẩm chất dẻo |
1.032 |
51,6 |
||
Như vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 88 tỷ USD, tăng 39%, nhập siêu tháng đầu năm là 1,78 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,17 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 1,62 tỷ USD.
Các thị trường có mức nhập siêu lớn là Trung Quốc 12,7 tỷ USD, tăng 52,1%, nhập siêu từ Hàn Quốc 3,4 tỷ , tăng 74,9%, từ ASEAN 1,3 tỷ , tăng hơn 92%...