Cơ hội hút tỷ USD vào thị trường trái phiếu

0:00 / 0:00
0:00
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) nước ta hiện mới chiếm khoảng 11% GDP và hoàn toàn vắng bóng nhà đầu tư ngoại. Theo các chuyên gia, Việt Nam có thể thu hút 10-20 tỷ USD vào thị trường này.
Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút hàng triệu tỷ đồng vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút hàng triệu tỷ đồng vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Lấp khoảng trống thị trường nhờ dòng vốn quốc tế

Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Nguyễn Hoàng Dương cho biết, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1.500 tỷ USD. Trong đó, thị trường vốn và thị trường chứng khoán sẽ đảm nhận mục tiêu huy động khoảng 10 triệu tỷ đồng giai đoạn này, bình quân 2 triệu tỷ đồng mỗi năm, tương đương khoảng 80 tỷ USD/năm, giảm bớt áp lực cho tín dụng ngân hàng.

Riêng thị trường TPDN hiện nay quy mô mới đạt 11% GDP và chưa có sự tham gia của dòng vốn ngoại. Ông Phạm Phú Khôi, Tổng thư ký Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam cho hay, hiện vốn đầu tư quốc tế vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn vắng bóng.

“Nhu cầu vốn trung và dài hạn của Việt Nam trong giai đoạn phát triển tới sẽ rất lớn, trong khi nguồn vốn từ ngân sách, tín dụng ngân hàng và khả năng huy động hiện tại vẫn chưa đủ đáp ứng. Để bù đắp khoảng trống đó, một trong những hướng mở là thị trường trái phiếu. Nếu các điều kiện về tín nhiệm được cải thiện, dòng vốn quốc tế vào thị trường trái phiếu Việt Nam có thể lên tới 10-20 tỷ USD. Tuy nhiên, để đạt được con số này, trước hết Việt Nam cần nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư”, ông Khôi nhận định.

Bà Tehmina Khan, Kinh tế trưởng phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng cho rằng, việc thu hút nhà đầu tư ngoại vào thị trường TPDN nội địa là rất cần thiết. Sự hiện diện của nhà đầu tư nước ngoài không chỉ mang lại nguồn vốn mà còn tạo tín hiệu về chất lượng của khung khổ chính sách, pháp lý và hạ tầng thị trường.

Bên cạnh nâng hạng tín nhiệm, cần tiếp tục chuẩn hóa và minh bạch hóa thị trường. Bởi trước khi rót vốn, các nhà đầu tư quốc tế yêu cầu khắt khe về minh bạch công bố thông tin, định giá, giao dịch...

Tại Trung Quốc, Nhật Bản và Indonesia, nhà đầu tư nước ngoài thường nắm giữ khoảng 10 - 13% thị trường trái phiếu bằng nội tệ. Dòng vốn này có thể mang tính ngắn hạn và rút ra nhanh, nhưng sự hiện diện của nhà đầu tư quốc tế vẫn có ý nghĩa trong việc củng cố niềm tin của những nhà đầu tư khác, bao gồm cả nhà đầu tư trong nước.

Để thu hút dòng vốn quốc tế, theo các chuyên gia, việc chuyển hóa sự quan tâm thành dòng vốn thực tế, đặc biệt từ các quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm quốc tế, yếu tố then chốt vẫn là hướng tới mục tiêu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư vào năm 2030.

Bên cạnh nâng hạng tín nhiệm, theo Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam, cần tiếp tục chuẩn hóa và minh bạch hóa thị trường. Bởi trước khi rót vốn, các nhà đầu tư quốc tế không chỉ đòi hỏi cao về chất lượng hàng hóa, mà còn yêu cầu khắt khe về minh bạch công bố thông tin, định giá, giao dịch, mức độ thuận tiện khi chu chuyển vốn, hạ tầng lưu ký, thanh toán…

Nhìn từ góc độ nhà đầu tư nước ngoài, ông Isao Hishikawa, đại diện Hiệp hội Các nhà kinh doanh chứng khoán Nhật Bản (JSDA), đánh giá cao những cải cách thị trường vốn của Việt Nam thời gian qua. Đại diện JSDA cho biết, Việt Nam là một trong những điểm đến đầu tư của các nhà đầu tư Nhật Bản. Tuy vậy, chuyên gia này khuyến nghị, để thu hút được nhà đầu tư nước ngoài, trước hết Việt Nam cần phải mở rộng được cơ sở nhà đầu tư trong nước.

“Độ sâu của cơ sở nhà đầu tư trong nước là yếu tố được các tổ chức quốc tế quan tâm khi đánh giá thị trường, giúp nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đặt chân vào. Không chỉ với thị trường TPDN mà với thị trường vốn nói chung, nhà đầu tư nước ngoài luôn song hành với một liên doanh nội địa”, ông Isao Hishikawa cho biết.

Theo chuyên gia này, việc thu hút thêm nhà đầu tư quốc tế cần đi cùng với các giải pháp như: nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia, giữ môi trường đầu tư ổn định và có thể dự báo, cải thiện quản trị doanh nghiệp…

Cần thêm sản phẩm để thu hút nhà đầu tư ngoại

Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng mất cân đối kỳ hạn nghiêm trọng (huy động chủ yếu ngắn hạn nhưng cho vay chủ yếu trung, dài hạn). Theo ông Ngô Thế Triệu, Phó tổng thư ký Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), Tổng giám đốc Optima Wealth Partners, nếu chúng ta bắt hệ thống ngân hàng dùng nguồn vốn ngắn hạn này để gánh toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn 10-20 năm của nền kinh tế, hệ thống sẽ bị quá tải và việc phát triển thị trường vốn, trong đó có TPDN, là rất cấp bách.

Trong bối cảnh hiện nay, theo ông Triệu, Việt Nam hoàn toàn có thể huy động nhiều hơn nữa vốn trong nước và quốc tế vào thị trường TPDN, thông qua hệ sinh thái đa dạng. Phát hành trái phiếu dự án, trái phiếu hạ tầng, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu địa phương… là những lựa chọn có thể cân nhắc.

Ông Ricco Zhang, Giám đốc cấp cao khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA) cũng cho rằng, phát triển thị trường trái phiếu đòi hỏi một hệ thống đa dạng gồm nhiều nhóm sản phẩm.

Cùng với một hệ sinh thái đáng tin cậy, thị trường cần xây dựng đường cong lợi suất trái phiếu chính phủ chuẩn mực làm giá tham chiếu, giúp nhà đầu tư xác định rủi ro của doanh nghiệp cũng như các khoản đầu tư dài hạn. Đồng thời, hoạt động tạo lập thị trường, giao dịch mua bán lại (repo) và hạ tầng thanh toán cũng phải được phát triển đồng bộ, cùng với đó là hành lang pháp lý phải rõ ràng và minh bạch.

Theo ông Zhang, việc chuẩn hóa công bố thông tin và hồ sơ phát hành đặc biệt quan trọng. Các tài liệu về rủi ro, báo cáo tài chính, quy trình thẩm định và thông tin sau phát hành cần rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện cho nhà đầu tư so sánh giữa các tổ chức phát hành cũng như qua các thời kỳ.

Với các doanh nghiệp muốn phát hành thường xuyên trên thị trường quốc tế, năng lực quản trị trong suốt vòng đời trái phiếu là yêu cầu bắt buộc. Điều này đòi hỏi tổ chức phát hành phải sở hữu đội ngũ quản lý nguồn vốn và pháp lý giàu kinh nghiệm, đại lý thanh toán uy tín, cùng cơ chế thanh toán, báo cáo sau phát hành chuẩn xác. Đồng thời, doanh nghiệp cần duy trì kênh kết nối thường xuyên với nhà đầu tư và liên tục nâng cao tính minh bạch.

Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp Việt chủ yếu tiếp cận dòng vốn ngoại thông qua các hợp đồng vay vốn với ngân hàng ngoại. Việc phát hành trái phiếu huy động vốn quốc tế mới chỉ diễn ra ở một số doanh nghiệp lớn, chủ yếu là các ngân hàng thương mại. Tuy vậy, giá vốn mà các doanh nghiệp Việt huy động qua thị trường quốc tế khá đắt đỏ. Bởi vậy, nâng hạn mức xếp hạng tín nhiệm là ưu tiên quan trọng trong giai đoạn hiện nay nếu muốn giảm chi phí vốn khi tiếp cận vốn quốc tế qua phát hành trái phiếu.

Ông Tạ Thanh Hòa, Giám đốc Khối Thị trường tài chính tại Standard Chartered Bank Việt Nam cho biết, nhìn từ góc độ nhà đầu tư, một khi thị trường nâng hạng, việc vay vốn ngoại không chỉ dễ dàng hơn, mà còn có chi phí rẻ hơn.

“Các khoản cho vay của chúng tôi đều vay hợp vốn, nếu được xếp hạng đầu tư, thì chúng ta sẽ mở rộng hơn, không chỉ ngân hàng quốc tế mà còn các quỹ đầu tư dài hạn, các quỹ hưu trí nước ngoài, thời hạn vay có thể lên tới 10 năm. Việc nâng hạng cũng giúp Việt Nam có thêm không gian để huy động vốn quốc tế vào thị trường TPDN”, ông Hòa nói.

Theo Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam, nhà đầu tư dài hạn nói chung, nhà đầu tư trên thị trường quốc tế nói riêng có điểm chung là rất thận trọng. Họ tìm đến những thị trường có quy mô đủ lớn, thanh khoản tốt, thông tin minh bạch và khung pháp lý ổn định, có thể dự báo được.

Vì vậy, để thu hút dòng vốn này, thứ nhất, cần nâng hạng tín nhiệm, cả ở cấp quốc gia lẫn cấp doanh nghiệp, bởi đây là điều kiện tiên quyết để Việt Nam bước vào danh mục đầu tư của nhiều nhà đầu tư tổ chức quốc tế, vốn chỉ được phép hoặc ưu tiên nắm giữ tài sản đạt mức xếp hạng đầu tư.

Song song nâng hạng tín nhiệm quốc gia, các doanh nghiệp phát hành cần nâng cao năng lực tài chính, quản trị và công bố thông tin theo chuẩn mực mà nhà đầu tư quốc tế quen thuộc.

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm kỳ hạn dài phù hợp với nhu cầu nắm giữ tài sản dài hạn của nhà đầu tư. Bên cạnh trái phiếu chính phủ, nhu cầu vốn rất lớn cho hạ tầng và năng lượng là cơ hội để phát triển trái phiếu dự án, trái phiếu xanh và các sản phẩm tài chính bền vững mà nhà đầu tư quốc tế quan tâm. Việc đưa ra các công cụ tăng cường tín dụng và cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp sẽ giúp tạo ra những sản phẩm có kỳ hạn dài và mức rủi ro phù hợp với khẩu vị của nhà đầu tư dài hạn.

Thứ ba, phát triển nhà đầu tư tổ chức trong nước và cải thiện hạ tầng thị trường. Việc từng bước mở rộng dư địa đầu tư một cách có kiểm soát cho các nhà đầu tư tổ chức, như quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, sẽ giúp hình thành nguồn vốn dài hạn ổn định. Một cơ sở nhà đầu tư tổ chức trong nước vững mạnh sẽ giúp cải thiện thanh khoản, giảm biến động và trở thành nền tảng để thu hút nhà đầu tư quốc tế.

Thứ tư, tiếp tục cải thiện thanh khoản thứ cấp, hạ tầng giao dịch, lưu ký, khả năng tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài, cũng như phát triển các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho nhà đầu tư.

Tin bài liên quan