Du xuân chùa Keo, chạm vào ký ức văn hóa bốn thế kỷ

0:00 / 0:00
0:00
Mỗi độ Xuân về, lễ hội chùa Keo tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên lại thu hút đông đảo du khách tìm về chiêm bái, vãn cảnh và hòa mình vào không gian văn hóa cổ truyền đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Chùa Keo (Thần Quang Tự) tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên (Ảnh: P.V)

Chùa Keo (Thần Quang Tự) tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên (Ảnh: P.V)

Hành trình về ngôi chùa cổ gần 400 năm tuổi

Mùa xuân, khu di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo luôn rộn ràng bước chân du khách thập phương tìm về lễ Phật, chiêm bái. Hai bên đường dẫn vào chùa là những thửa ruộng lúa mới cấy, từng hàng mạ non xanh biếc còn đẫm hơi sương như những dải lụa mềm. Mùi bùn non và hương lúa mới hòa trong gió sớm khiến bước chân người hành hương chậm lại, như thể đang đi sâu dần vào một miền ký ức của làng quê Bắc Bộ.

Chùa Keo (Thần Quang Tự), từ lâu được xem là một trong những ngôi chùa cổ tiêu biểu của Việt Nam. Tọa lạc bên dòng sông Hồng hiền hòa, ngôi chùa hiện lên với vẻ cổ kính, mái ngói cong mềm mại soi bóng xuống không gian làng quê thanh bình của vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Theo sử liệu, chùa Keo gắn liền với Thiền sư Dương Không Lộ, vị cao tăng thời Lý có công dựng chùa và truyền bá Phật pháp. Ông xuất thân trong gia đình làm nghề chài lưới, đi tu từ năm 29 tuổi và từng sang Tây Trúc tu luyện đạo Phật. Tương truyền, ngài từng chữa bệnh cho vua Lý nên được phong làm Quốc sư. Sau đó, nhà vua đổi tên chùa thành Thần Quang Tự để ghi nhớ công lao của vị thiền sư.

Chùa Keo (Thần Quang Tự) tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên, được xây dựng từ thế kỷ XVII, là một trong những công trình kiến trúc gỗ cổ tiêu biểu của Việt Nam với 17 công trình, 128 gian. Nổi bật là tòa gác chuông gỗ cao hơn 11 m - gác chuông gỗ cổ cao nhất Việt Nam.

Quần thể di tích chùa Keo ngày nay gồm hai cụm kiến trúc chính: chùa thờ Phật và đền thờ Đức Thánh Dương Không Lộ. Toàn bộ khu di tích trải rộng với 17 công trình và 128 gian, phần lớn được dựng bằng gỗ lim, mái lợp ngói ta, những hàng cột lớn sẫm màu thời gian nâng đỡ các lớp mái cong mềm mại. Trải qua gần 4 thế kỷ, từng cấu kiện gỗ, từng nét chạm khắc rồng phượng, hoa lá vẫn giữ được vẻ tinh xảo hiếm thấy, tạo nên một tổng thể kiến trúc Phật giáo tiêu biểu của thế kỷ XVII - nơi mà tài hoa của người thợ thủ công xưa dường như vẫn còn hiện diện trong từng thớ gỗ.

Đi sâu vào khuôn viên chùa, du khách thường dừng lại thật lâu ở tòa gác chuông cổ kính - điểm nhấn nổi bật của toàn bộ quần thể. Công trình cao 11,04 m với ba tầng mái cong vút. Mỗi khi nắng sớm chiếu xuống, những lớp mái ngói xếp chồng lên nhau tạo thành những dải sáng tối mềm mại, khiến tòa gác chuông mang dáng vẻ thanh thoát như một bông sen gỗ nở giữa không gian tĩnh lặng. Bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim, các cấu kiện được liên kết bằng mộng truyền thống mà không cần đến bất kỳ chiếc đinh kim loại nào.

Kỹ thuật dựng chùa ấy vừa chính xác, vừa bền bỉ, minh chứng cho trình độ kiến trúc tinh vi của những người thợ thủ công cách đây hàng trăm năm. Bên trong gác chuông là những cổ vật mang dấu ấn thời gian. Tầng một treo khánh đá cao 1,2 m; tầng hai treo quả chuông đồng đúc năm 1686 cao 1,3 m với âm thanh ngân vang trầm ấm; tầng trên cùng treo hai quả chuông nhỏ được đúc năm 1796. Chính bởi giá trị kiến trúc và lịch sử đặc biệt ấy, tòa gác chuông chùa Keo đã được xác lập kỷ lục là gác chuông gỗ cổ cao nhất Việt Nam.

Không dừng lại ở vẻ đẹp kiến trúc, chùa Keo còn lưu giữ nhiều cổ vật quý hiếm, trong đó nổi bật là hương án gỗ có niên đại từ thế kỷ XVII, được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2021. Hương án mang hình thức hộp chữ nhật dạng chân quỳ dạ cá, bề mặt và thân án phủ kín những lớp chạm khắc dày đặc hình rồng uốn lượn, hoa sen, hoa cúc, mây lửa và các linh vật. Những đường chạm mềm mại, tinh vi đến từng chi tiết nhỏ cho thấy trình độ mỹ thuật bậc cao của các nghệ nhân xưa, đồng thời phản ánh tư duy thẩm mỹ sâu sắc của người Việt trong kiến trúc và nghệ thuật thờ tự. Đứng trước những di vật ấy, người ta dễ có cảm giác như đang chạm vào một lớp trầm tích văn hóa được bồi đắp qua hàng trăm năm, nơi mỗi chi tiết kiến trúc đều kể lại câu chuyện về sự tài hoa và lòng tôn kính của tiền nhân đối với di sản tinh thần của dân tộc.

Một dấu ấn đặc biệt khác là pho tượng Tuyết Sơn mô tả Đức Phật Thích Ca trong giai đoạn tu khổ hạnh. Theo chia sẻ của bà Nguyễn Thị Duyên, hướng dẫn viên tại Ban Quản lý di tích chùa Keo, pho tượng khắc họa giai đoạn Đức Phật thiền định khổ hạnh suốt nhiều năm để tìm ra căn nguyên nỗi khổ của con người. “Bức tượng thể hiện hình ảnh thân thể gầy gò, xương nổi rõ những ánh nhìn trầm tĩnh, toát lên ý chí và trí tuệ của Đức Phật trong hành trình tìm chân lý”, bà Duyên cho biết.

Pho tượng được tạo tác từ hỗn hợp các vật liệu dân gian như giấy bản ngâm nước vôi trong, bồ hóng, mật mía và tro rơm rạ theo tỷ lệ bí truyền. Trải qua gần bốn thế kỷ, pho tượng vẫn giữ được vẻ cổ kính, trở thành hiện vật độc bản mang giá trị đặc biệt về nghệ thuật và triết lý Phật giáo. Từng mái gỗ cổ, từng nét chạm khắc tinh xảo và tiếng chuông ngân vang như đang thì thầm kể lại câu chuyện về vùng đất đã bền bỉ bồi đắp nên những lớp trầm tích văn hóa qua nhiều thế kỷ.

Lễ hội Xuân đậm sắc màu văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

Nếu kiến trúc chùa Keo là dấu ấn của lịch sử, thì lễ hội mùa Xuân nơi đây chính là không gian hội tụ sinh động của đời sống văn hóa dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Lễ hội thường được tổ chức vào tháng Giêng âm lịch hằng năm theo truyền thống “Xuân Thu nhị kỳ”. Ngoài lễ hội mùa Xuân, chùa Keo còn có lễ hội mùa Thu diễn ra vào trung tuần tháng 9 âm lịch. Cả hai kỳ lễ hội đều nhằm tưởng nhớ công đức của Đức Thánh Không Lộ và cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Những ngày đầu Xuân, không gian quanh chùa Keo trở nên rộn ràng hơn bao giờ hết. Từng đoàn người từ khắp nơi tìm về, mang theo nén hương thành kính và những ước nguyện bình an cho năm mới. Trong sân chùa, mùi khói hương hòa quyện với làn gió xuân nhẹ nhàng, tạo nên bầu không khí vừa linh thiêng vừa ấm áp.

Ông Phạm Văn Hiệu, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hưng Yên cho biết, chùa Keo là di tích lịch sử văn hóa có giá trị đặc biệt, gắn bó mật thiết với đời sống tâm linh của người dân địa phương. “Lễ hội chùa Keo mùa Xuân là hoạt động văn hóa truyền thống tiêu biểu của vùng đồng bằng sông Hồng. Lễ hội thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, lòng tôn kính đối với các bậc tiền nhân, đồng thời phản ánh sinh động đời sống văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân nông nghiệp qua nhiều thế hệ”, ông Hiệu nhấn mạnh.

Lễ hội chùa Keo được tổ chức theo phương châm trang trọng, an toàn, tiết kiệm và văn minh, kiên quyết loại bỏ các hành vi mê tín hay lợi dụng lễ hội để trục lợi nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm của di tích. Phần lễ diễn ra trang trọng với các nghi thức truyền thống như lễ khai chỉ, khai mạc, dâng hương và tế lễ tại tòa Giá Roi; đồng thời phục dựng một số nghi thức cổ truyền như múa rối hầu Thánh, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Nổi bật là lễ rước kiệu Thánh với đoàn rước trong trang phục truyền thống, hòa cùng tiếng trống hội và sắc cờ rực rỡ.

Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như kéo lửa thổi cơm thi, múa kỳ lân, cờ tướng, leo cầu ngô, bịt mắt đánh trống, bắt vịt dưới hồ. Bên cạnh đó, nghi thức khai bút đầu Xuân thể hiện tinh thần hiếu học của người Việt. Khép lại lễ hội là nghi lễ chầu Thánh với điệu múa chèo cạn, múa ếch vồ, bày tỏ lòng tri ân đối với Đức Thánh Không Lộ.

Trong dòng người hành hương đầu năm, bà Phạm Thị Lý (phường Thanh Xuân, Hà Nội) cho biết, đến chùa Keo đầu Xuân đã trở thành nét văn hóa quen thuộc của gia đình bà. “Mỗi dịp đầu năm tôi đều đến chùa Keo lễ Phật và lễ Thánh, cầu mong sức khỏe và bình an cho mọi người trong gia đình”, bà Lý chia sẻ.

Theo ông Hiệu, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Keo cần gắn với phát triển du lịch bền vững. “Chúng tôi mong muốn người dân địa phương và du khách thập phương cùng chung tay bảo vệ di tích, giữ gìn cảnh quan và môi trường, góp phần xây dựng lễ hội chùa Keo trở thành điểm đến văn hóa du lịch tiêu biểu của tỉnh Hưng Yên”, ông Hiệu nhấn mạnh.

Lễ hội chùa Keo vẫn giữ nguyên vẻ đẹp của văn hóa nông nghiệp lúa nước, với tiếng chuông chùa vang vọng trên cánh đồng và các nghi lễ truyền thống, tạo nên một không gian linh thiêng và gần gũi.

Mỗi mùa Xuân, lễ hội là dịp tìm về cội nguồn văn hóa vùng châu thổ sông Hồng, và tiếng chuông cổ tiếp nối dòng chảy ký ức văn hóa suốt hàng trăm năm.

Tin bài liên quan