Cầu vốn dự báo tăng tốc trong mùa cao điểm kinh doanh cuối năm

Cầu vốn dự báo tăng tốc trong mùa cao điểm kinh doanh cuối năm

Lãi suất tăng cao, cầu vốn vẫn lớn

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Mặt bằng lãi suất tăng cao ảnh hưởng tới nhu cầu vốn của nền kinh tế, nhất là vay mua nhà. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống vượt 10% sau 8 tháng đầu năm cho thấy nhu cầu vốn vẫn đang lớn.

Nhu cầu vốn từ khu vực doanh nghiệp rất lớn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Thực hiện chỉ đạo của NHNN, 19 ngân hàng đã tham gia chương trình tín dụng ưu đãi, với tổng quy mô các chương trình, sản phẩm tín dụng ưu đãi trên 407.000 tỷ đồng. Các khoản vay được áp dụng lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Một số chương trình ưu đãi thấp hơn từ 1 - 2%/năm.

Thời gian tới, NHNN tiếp tục định hướng tín dụng vào sản xuất - kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có SME. Các tổ chức tín dụng được yêu cầu cải tiến quy trình, tăng cường chia sẻ dữ liệu và đánh giá tín dụng dựa nhiều hơn vào phương án kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng, năng lực quản trị, từng bước giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.

Ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó giám đốc NHNN Chi nhánh Khu vực 2 cho biết, đến cuối tháng 8/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP.HCM, Đồng Nai đạt 6.392.000 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 10,08% so với cuối năm 2025. Nhu cầu tín dụng dự báo tiếp tục tăng cao hơn huy động vốn trong các tháng cuối năm khi doanh nghiệp bước vào mùa cao điểm kinh doanh khiến việc giảm lãi suất trở nên thách thức. Vì thế, bên cạnh tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm truyền thống, nhiều ngân hàng đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi với mức lãi suất trên 9%/năm.

Về lãi suất, các khoản vay phục vụ sản xuất, thương mại của doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt thường có chi phí thấp hơn. Ngược lại, những khoản vay hoặc lĩnh vực được đánh giá rủi ro cao có thể chịu lãi suất 11 - 12%/năm, thậm chí cao hơn.

Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho hay, nhu cầu vốn của khu vực doanh nghiệp hiện vẫn lớn, đặc biệt khi hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu tiếp tục mở rộng. Ngược lại, nhu cầu vốn của khách hàng cá nhân để đầu tư bất động sản đang có dấu hiệu chậm lại vì áp lực lãi vay. Sự dịch chuyển này cũng cho thấy tăng trưởng tín dụng hiện không diễn ra đồng đều ở mọi phân khúc. Dòng vốn đang có xu hướng tập trung nhiều hơn vào hoạt động tạo ra dòng tiền và phục vụ sản xuất, thương mại.

Tăng trưởng tín dụng cả năm có thể đạt 15 - 16%

Tín dụng duy trì tốc độ tăng cao trong bối cảnh nhu cầu vốn cho sản xuất, thương mại và các dự án đầu tư lớn vẫn đáng kể. Tuy nhiên, chuyên gia UOB Việt Nam cho rằng, mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao không đồng nghĩa nền kinh tế phải phụ thuộc hoàn toàn vào việc mở rộng tín dụng. Chính sách tài khóa và đầu tư công được kỳ vọng đóng vai trò dẫn dắt lớn hơn bên cạnh chính sách tiền tệ. Việc triển khai các dự án hạ tầng tạo nhu cầu về máy móc, nguyên vật liệu, lao động, dịch vụ, từ đó lan tỏa sang hoạt động của khu vực doanh nghiệp. Dẫu vậy, trong ngắn hạn, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ đạo.

Khuyến nghị được ông Quang đưa ra, với những dự án có thời gian đầu tư dài, nhu cầu vốn lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sẽ tạo thêm áp lực lên thanh khoản và bảng cân đối của hệ thống. Vì vậy, các kênh dẫn vốn khác như thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và nhà đầu tư tổ chức dài hạn sẽ cần đóng vai trò lớn hơn, qua đó chia sẻ nhu cầu vốn với hệ thống ngân hàng.

Ông Vũ Thế Quân, Trưởng phòng Phân tích, Công ty Chứng khoán Vietcap cũng đánh giá, mặt bằng lãi suất tăng cao chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu vốn của nền kinh tế. Đáng chú ý là đối với những người cần vốn mua nhà, do hiện mặt bằng lãi suất cho cá nhân vay mua nhà đang ở mức tương đối cao. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 10% trong hơn 8 tháng đầu năm cho thấy thực tế nhu cầu vốn vẫn đang lớn.

Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore cho biết, dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 của Việt Nam đã được UOB điều chỉnh tăng lên 8,5%, hàm ý nền kinh tế sẽ tăng trưởng khoảng 8,8% trong nửa cuối năm 2026. Nhằm đạt được mục tiêu chính thức là 10% cho cả năm, tăng trưởng GDP trong 6 tháng cuối năm sẽ phải lên tới 11,9%, một mức được cho là vẫn khá thách thức ở thời điểm hiện tại.

Theo chuyên gia UOB Singapore, Bộ Tài chính ước tính Việt Nam sẽ cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 1.500 tỷ USD) vốn đầu tư trong giai đoạn 2026 - 2030 để duy trì tăng trưởng hai chữ số. Riêng năm tài khóa gần nhất, nhu cầu vốn vào khoảng 5,1 triệu tỷ đồng (khoảng 200 tỷ USD), Ngân sách Nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20% nhu cầu này. Nguồn vốn đó sẽ được sử dụng để nâng cấp cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xanh và bền vững, nâng cao hàm lượng công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất công nghiệp cũng như đầu tư cho các lĩnh vực xã hội như giáo dục và y tế. Do đó, nguồn vốn từ Chính phủ nên được xem là “vốn mồi”, chứ không thể là động lực duy nhất cho tăng trưởng.

Đối với 80% nhu cầu vốn còn lại, ông Suan Teck Kin cho rằng, kênh huy động truyền thống là hệ thống ngân hàng đang dần tiến tới giới hạn khi tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện ở mức cao kỷ lục khoảng 138%, trong khi tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đạt 98,7%, đồng nghĩa gần như toàn bộ nguồn tiền gửi đã được đưa vào lưu thông và dư địa cho vay thêm không còn nhiều. Năng lực vốn của hệ thống ngân hàng cũng là một thách thức. Theo dữ liệu Chỉ số An toàn tài chính của IMF, tỷ lệ vốn cấp 1 (Tier 1 Capital Ratio) của ngành ngân hàng Việt Nam vào cuối năm 2025 ước khoảng 10,59%, thấp nhất trong nhóm ASEAN-6, so với khoảng 13% tại Philippines và 15% tại Malaysia.

“Vì vậy, mặc dù hệ thống ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu 15% trong năm 2026, nhưng phần gia tăng vốn cho các dự án dài hạn không nên tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào ngân hàng”, ông Suan Teck Kin khuyến nghị.

Chuyên gia UOB Singapore nhìn nhận, ở góc độ lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng đang dần tiến sát mức mục tiêu 4,5% của Ngân hàng Nhà nước, khiến khả năng nới lỏng chính sách trở nên hạn chế hơn. Trong bối cảnh này, cơ quan điều hành có thể ưu tiên sử dụng các công cụ khác, chẳng hạn như điều tiết tốc độ tăng trưởng tín dụng, trong khi vẫn duy trì môi trường lãi suất ổn định để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nếu tăng trưởng huy động vốn chưa đủ mạnh để hỗ trợ tốc độ mở rộng tín dụng cao, việc điều tiết tăng trưởng tín dụng chậm lại phần nào có thể là lựa chọn hợp lý. Điều này không nhất thiết làm suy yếu triển vọng tăng trưởng. Rủi ro chỉ xuất hiện khi điều kiện tín dụng bị thắt chặt quá mức. Một sự điều chỉnh vừa phải giúp duy trì ổn định vĩ mô, đảm bảo đà tăng trưởng bền vững.

Tin bài liên quan