Tín dụng vẫn là động lực chính cho lợi nhuận
Theo tìm hiểu của Đầu tư Chứng khoán, tính đến ngày 28/9/2028, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20.619.162 tỷ đồng, tăng 10,89% so với đầu năm và tăng 16,63% so với cùng kỳ. Tín dụng tiếp tục mở rộng, tạo nền cho thu nhập lãi của các ngân hàng trong quý III. Tuy nhiên, tốc độ tăng tín dụng hiện thấp hơn cùng kỳ năm trước. Thời điểm này năm ngoái, tín dụng ghi nhận mức tăng 13,2% so với đầu năm.
Ở phía nguồn vốn, huy động vốn đến ngày 28/9/2026 đạt 19.390.133 tỷ đồng, tăng 9,78% so với đầu năm và tăng 15,4% so với cùng kỳ.
Tính từ đầu năm đến nay, tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động 1,11 điểm phần trăm. Nhưng riêng tháng 9, diễn biến đã đảo chiều: huy động tăng 1,51%, trong khi tín dụng chỉ tăng 0,58%.
Khoảng cách này xuất hiện đúng vào thời điểm các ngân hàng vừa hoàn thành một quý tăng trưởng tín dụng, vừa chuẩn bị nguồn lực cho quý cuối năm. Dòng tiền huy động tăng nhanh hơn dư nợ tín dụng trong tháng 9 chưa đủ để nói lên xu hướng lợi nhuận nhưng cho thấy bài toán nguồn vốn đang trở nên đáng chú ý hơn khi tín dụng tiếp tục mở rộng.
Bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu MBS nhận định, thu nhập lãi thuần của nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối có thể tăng 22,1% so với cùng kỳ, cao hơn mức 14,1% của nhóm ngân hàng tư nhân. Lợi thế của nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối đến từ chi phí vốn thấp hơn, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và tỷ trọng các khoản vay trung dài hạn chuyển sang lãi suất thả nổi gia tăng.
Chi phí vốn, cơ cấu tiền gửi và khả năng định giá khoản vay đang tạo ra khoảng cách đáng kể giữa các ngân hàng. Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, áp lực lớn hơn khi tăng trưởng tín dụng nhanh đi cùng nhu cầu bổ sung nguồn vốn, đặc biệt tại những ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào tiền gửi kỳ hạn. Khi đó, chi phí đầu vào có thể tăng nhanh hơn thu nhập từ tài sản sinh lãi, nhất là khi lãi suất cho vay khó điều chỉnh ngay theo chi phí vốn.
Đây là điểm mà diễn biến huy động trong tháng 9 trở nên đáng chú ý: tín dụng vẫn tăng, nhưng cuộc đua nguồn vốn đã bắt đầu tác động trở lại bài toán lợi nhuận.
Biên lợi nhuận bước vào phép thử
Bà Hiền đánh giá, mặt bằng NIM trong quý III vẫn chịu sức ép từ chi phí vốn neo cao, đặc biệt ở nhóm ngân hàng tư nhân có tốc độ tăng tín dụng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào tiền gửi kỳ hạn. Trong khi đó, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc được đánh giá ít chịu tác động giảm NIM hơn nhờ tăng trưởng tín dụng cao và không bị hạn chế trong một số hoạt động cho vay bất động sản. Song sức ép từ chi phí vốn không đồng nghĩa NIM chỉ có một chiều đi xuống. Ở phía ngược lại, khả năng cải thiện lợi suất tài sản đang tạo thêm dư địa cho biên lãi.
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, NIM toàn ngành ngân hàng có thể bước vào chu kỳ hồi phục khi cơ cấu cho vay dịch chuyển sang các kỳ hạn dài hơn và một số khoản vay ưu đãi chuyển sang lãi suất thả nổi sau khi hết thời gian hỗ trợ. Động lực chính của lợi nhuận ngân hàng quý III/2026 vẫn đến từ thu nhập lãi khi các ngân hàng đẩy nhanh giải ngân tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn phục hồi.
Dữ liệu cho thấy, tại thời điểm 28/9/2026, tín dụng tiền đồng chiếm 95,34% tổng dư nợ, tín dụng ngoại tệ chiếm 4,66%. Tín dụng ngắn hạn chiếm 51,02%, trung và dài hạn chiếm 48,98%. Tín dụng ngoại tệ tăng 52,63% so với đầu năm, trong khi tín dụng VND tăng 9,42%. Cơ cấu này cho thấy tăng trưởng tín dụng đang diễn ra không đồng đều giữa các cấu phần; trong đó, cơ cấu kỳ hạn, loại tiền và nhóm khách hàng sẽ tác động trực tiếp tới thu nhập và chi phí vốn của từng ngân hàng.
Đặc biệt, với tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn đang chiếm 48,98% tổng dư nợ, diễn biến lãi suất của các khoản vay trung và dài hạn sẽ là một trong những yếu tố đáng theo dõi khi đánh giá khả năng cải thiện thu nhập lãi trong những tháng cuối năm.
Khả năng hấp thụ áp lực chi phí vốn vì thế cũng không giống nhau giữa các ngân hàng. Những nhà băng có nguồn vốn ổn định, CASA cao và chi phí huy động thấp có lợi thế khác với những ngân hàng phải tăng tiền gửi kỳ hạn để đáp ứng tăng trưởng tín dụng. Đó cũng là lý do cùng một mặt bằng tăng trưởng tín dụng, mức tăng lợi nhuận giữa các ngân hàng có thể rất khác nhau.
Khi biên lãi trở thành một biến số khó dự đoán, các nguồn thu ngoài lãi càng có ý nghĩa đối với kết quả kinh doanh. Theo SSI Research, thu nhập ngoài lãi và thu hồi các khoản nợ đã xử lý có thể tiếp tục hỗ trợ lợi nhuận ngân hàng. Ở cấp độ từng ngân hàng, SSI Research dự báo Techcombank có thu nhập ngoài lãi tăng 19% dù NIM giảm nhẹ so với quý II. Với ACB, thu nhập lãi thuần và thu dịch vụ tiếp tục tăng, song chi phí dự phòng cao hơn lại hạn chế mức tăng lợi nhuận.
Những dự báo này cho thấy, khi nhìn vào lợi nhuận quý III, NIM chỉ là một phần của câu chuyện. Phần còn lại nằm ở khả năng tạo thêm nguồn thu ngoài lãi và mức độ lợi nhuận phải dành cho dự phòng. Nếu thu nhập ngoài lãi cải thiện, ngân hàng có thêm dư địa bù đắp sức ép từ biên lãi. Ngược lại, dự phòng tăng sẽ lấy đi một phần kết quả đạt được từ hoạt động kinh doanh.
Ở khía cạnh này, dự phòng tiếp tục tạo ra sự khác biệt giữa các nhóm ngân hàng. Theo bà Hiền, tổng chi phí dự phòng của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi của MBS có thể tăng 6,7% so với cùng kỳ, nhưng nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối được dự báo ghi nhận mức giảm 18,5%, trong khi nhóm tư nhân tăng 28,8%. Nhóm tư nhân tiếp tục phải duy trì trích lập ở mức cao hơn để xử lý áp lực từ các khoản vay bán lẻ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, bất động sản.
Dữ liệu đến ngày 28/9/2026 cho thấy tín dụng đi trước huy động 1,11 điểm phần trăm. Nhưng riêng tháng 9, huy động đã tăng 1,51%, trong khi tín dụng tăng 0,58%. Nếu tín dụng tiếp tục tăng tốc, nhu cầu huy động sẽ còn lớn. Khi đó, lợi thế không chỉ thuộc về ngân hàng có thể tăng dư nợ nhanh, mà còn nằm ở khả năng huy động được nguồn vốn với chi phí hợp lý và duy trì lợi suất tài sản đủ cao. Ngược lại, nếu huy động tiếp tục tăng nhanh hơn tín dụng trong từng giai đoạn, thanh khoản được củng cố nhưng hiệu quả sử dụng vốn sẽ trở thành vấn đề cần theo dõi.
Khi kết quả kinh doanh quý III lần lượt được công bố, con số lợi nhuận sẽ chỉ là lớp thông tin đầu tiên. Đằng sau đó là bài toán về chi phí vốn, khả năng cải thiện biên lãi, nguồn thu ngoài lãi và trích lập dự phòng rủi ro của mỗi ngân hàng.