Dòng vốn quốc tế là cơ hội và cũng là bài kiểm tra khắt khe về năng lực của doanh nghiệp Việt

Dòng vốn quốc tế là cơ hội và cũng là bài kiểm tra khắt khe về năng lực của doanh nghiệp Việt

Mở rộng kênh vốn xuyên biên giới

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn bứt phá mạnh mẽ, nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý để phục vụ các dự án hạ tầng, năng lượng trọng điểm cũng như mở rộng quy mô kinh doanh trở nên cấp thiết. Trước giới hạn về quy mô tín dụng nội địa, một xu hướng nổi bật đang được nhiều doanh nghiệp lựa chọn, đó là chủ động vươn ra thị trường quốc tế để khai thác đa dạng các dòng vốn ngoại.

Bức tranh đa dạng

Nguồn vốn quốc tế chảy vào Việt Nam hiện đã vượt qua khuôn khổ của vốn đầu tư trực tiếp (FDI), vốn đầu tư gián tiếp (FII) hay vốn vay thương mại truyền thống, mà phát triển thành nhiều hình thức tài chính chuyên sâu và linh hoạt.

Trước hết, có thể kể đến tín dụng xuất khẩu (ECA) và vốn vay dự án quy mô lớn. Một trong những ví dụ điển hình cho xu hướng này là Dự án Nâng cấp mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất của Tổng công ty cổ phần Lọc dầu hóa dầu Việt Nam (BSR). Để thu xếp nguồn vốn khổng lồ cho dự án trọng điểm quốc gia, BSR đã phối hợp với đơn vị tư vấn trong nước (PVcomBank) và ngân hàng điều phối quốc tế (HSBC) triển khai phương án vay đồng bộ với tiến độ gói thầu EPC. BSR đã chủ động làm việc và nộp đơn đề nghị tài trợ chính thức tới các tổ chức tín dụng xuất khẩu hàng đầu thế giới như MIGA (thuộc Tổ chức Ngân hàng Thế giới) và SINOSURE (Trung Quốc). Nhờ sự hỗ trợ từ các tổ chức ECA, doanh nghiệp kỳ vọng không chỉ tiếp cận được nguồn vốn dài hạn với lãi suất ưu đãi mà còn tối ưu hóa được cấu trúc vốn tổng thể cho dự án.

Phương thức thứ hai được nhiều doanh nghiệp triển khai là vay hợp vốn (syndicated loans) quốc tế. Bên cạnh lĩnh vực sản xuất - năng lượng, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp tư nhân lớn cũng đang đẩy mạnh vay hợp vốn. Sau TCBS sử dụng công cụ này hiệu quả, Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS) đã tận dụng tối đa hệ sinh thái và uy tín của đối tác chiến lược nước ngoài (SMBC). Nửa đầu năm nay, VPBankS đã huy động thành công 200 triệu USD và tiếp tục triển khai khoản vay hợp vốn mới 150 triệu USD do SMBC đứng đầu thu xếp, kèm điều khoản mở rộng.

Một kênh huy động vốn khác là phát hành trái phiếu quốc tế được dự báo sẽ phổ biến hơn trong thời gian tới. Đây cũng là hướng đi đang được các ngân hàng thương mại Việt Nam khai thác mạnh. Trong tháng 10, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) đã hoàn thành đợt phát hành và niêm yết trái phiếu quốc tế bằng đồng đô-la Singapore (SGD) với quy mô 290 triệu USD. Ngân hàng này dự kiến sẽ vay hợp vốn quốc tế thêm 400 triệu USD, đưa tổng vốn vay nước ngoài đạt 1,5 tỷ USD. Việc chào bán thành công trái phiếu trên thị trường vốn khu vực giúp các ngân hàng tối ưu hóa cơ cấu nợ và gia tăng nguồn vốn trung - dài hạn.

Bà Vương Thị Huyền, Tổng giám đốc Fast Capital cho biết, hiện nhu cầu vay vốn quốc tế thông qua các đơn đặt hàng tư vấn tại công ty của bà rất lớn. Các doanh nghiệp, ngân hàng thường vay kỳ hạn 3 năm, lãi suất 3 - 4%/năm tuỳ nhóm cộng với biên độ, tổng lãi suất đi vay vào khoảng 6%/năm. So với việc đi vay trong nước với lãi suất cao hơn và nguồn vốn hạn hẹp hơn, vay vốn quốc tế là giải pháp dễ thở hơn với nhiều doanh nghiệp Việt hiện nay.

Ra biển lớn không dễ

Dù tiềm năng khai thác rất lớn, quá trình tiếp cận dòng vốn quốc tế luôn đi kèm với những thách thức và sự khắt khe. Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị KBC chia sẻ: “Tôi từng thử tính đến phương án vay vốn quốc tế, nhưng thấy phức tạp quá nên lại thôi. Phí rất nhiều và phải qua nhiều công đoạn. Nếu vay 100 triệu USD mà trả 10 triệu USD cho luật sư thì quá khó. Bởi vậy, nếu vay quốc tế thường phải vay gói lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể phát hành. Chưa kể, vấn đề nội tại của nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của các tổ chức quốc tế”.

Khi tiếp cận vốn nước ngoài, theo góc nhìn của giới chuyên gia, các doanh nghiệp và tổ chức tài chính Việt Nam cần đặc biệt chú trọng các yếu tố. Thứ nhất, quản trị rủi ro tỷ giá và lãi suất. Các khoản vay ngoại tệ (USD, SGD...) luôn ẩn chứa rủi ro khi biến động tỷ giá xảy ra, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp có doanh thu chủ yếu bằng Đồng Việt Nam (VND). Do đó, việc xây dựng kịch bản phòng ngừa rủi ro tỷ giá thông qua các công cụ tài chính phái sinh (hoán đổi tiền tệ, hợp đồng kỳ hạn) ngay từ giai đoạn đàm phán là điều bắt buộc để bảo vệ dòng tiền. Theo bà Ngô Thu Hà, Tổng giám đốc SHB, Ngân hàng đã sử dụng luôn dịch vụ bảo lãnh và phòng ngừa rủi ro tỷ giá khi phát hành và vay quốc tế.

Thứ hai, doanh nghiệp cần chuẩn bị đáp ứng nghiêm ngặt tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị). Các tổ chức quốc tế như MIGA, World Bank hay các ngân hàng toàn cầu hiện đặt tiêu chuẩn ESG lên hàng đầu. Việc BSR hợp tác với Liên danh tư vấn Fichtner - ILS để hoàn thiện Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường - Xã hội (ESIA) là minh chứng cho thấy doanh nghiệp không thể tiếp cận vốn ngoại chi phí hợp lý nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn phát triển bền vững, chuỗi cung ứng sạch và trách nhiệm xã hội.

Thứ ba là tận dụng vai trò của các đơn vị tư vấn và ngân hàng cầu nối. Việc thu xếp các khoản vay quốc tế phức tạp đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các tư vấn trong nước và các ngân hàng điều phối toàn cầu. Các đơn vị này giữ vai trò then chốt trong việc cầu nối cấu trúc khoản vay, thẩm định hồ sơ và thương thảo các điều khoản hỗ trợ từ nhà thầu EPC. Chẳng hạn, trong thương vụ thu xếp vốn vay và trái phiếu xanh cho Nhà máy nước sạch Hòa Bình - Xuân Mai 2.400 tỷ đồng, Fast Capital đóng vai trò điều phối tới 15 bên liên quan, gồm nhiều tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Đây cũng là lần đầu tiên Ngân hàng Phát triển Việt Nam hợp tác với một định chế tài chính phát triển quốc tế (DFI), đòi hỏi khả năng dung hòa khác biệt về tiêu chuẩn vận hành, ngôn ngữ và phương thức quản trị. Cấu trúc giao dịch được đánh giá mang tính đột phá trên thị trường tài chính Việt Nam khi kết hợp đồng thời trái phiếu xanh lãi suất cố định và khoản vay dài hạn lãi suất thả nổi với kỳ hạn lên tới 20 năm, dài nhất trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đến nay. Nhờ cấu trúc tài chính linh hoạt, dự án đã hoàn thành sớm hơn kế hoạch và dự kiến cung cấp 150.000 m3 nước sạch/ngày cho người dân Phú Thọ và các khu vực lân cận.

Fast Capital cũng là đơn vị tư vấn tài chính cho Thaco Agri để thu xếp bảo lãnh tín dụng 50 triệu USD từ PIDG cho đợt phát hành trái phiếu kỳ hạn 8 năm, lãi suất cố định, trị giá tương đương 49 triệu USD. Trái phiếu sau đó được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Campuchia (CSX) vào đầu năm 2026.

“Kết hợp hiệu quả giữa vốn công, vốn tư nhân và vốn ngoại nhằm nâng cao tính khả thi tài chính của dự án hạ tầng trong bối cảnh thị trường tín dụng dài hạn còn hạn chế, khả năng thiết kế cấu trúc chia sẻ rủi ro giữa nhiều nhóm nhà đầu tư khác nhau có thể giúp các dự án đóng tài chính đúng tiến độ”, bà Vương Thị Huyền cho biết.

Cũng không thể không đề cập đến yêu cầu nâng cao xếp hạng tín nhiệm và tính minh bạch. Chi phí vốn ngoại phụ thuộc trực tiếp vào mức độ rủi ro của doanh nghiệp, dự án. Để duy trì dòng vốn ngoại ổn định, các doanh nghiệp Việt Nam cần duy trì thực hành báo cáo tài chính theo chuẩn quốc tế (IFRS), công khai thông tin minh bạch và liên tục củng cố nền tảng vốn chủ sở hữu. Doanh nghiệp cũng cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Ngân hàng Nhà nước về đăng ký, quản lý vay trả nợ nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh. Đặc biệt, nguồn vốn huy động về phải được giải ngân đúng mục đích kinh doanh, tạo ra dòng tiền thực tế để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ đúng hạn.

Tác động lan tỏa

Dù không dễ tiếp cận, nhưng trong bối cảnh hiện nay, việc thu hút thành công dòng vốn quốc tế tạo ra hiệu ứng đòn bẩy kép cho các doanh nghiệp và thị trường trong nước. Một mặt, vốn ngoại tạo động lực mở rộng kinh doanh. Thực tế ở các ngân hàng lớn và công ty chứng khoán lớn cho thấy, nguồn vốn ngoại dồi dào giúp các định chế tài chính nâng cao năng lực cho vay, phát triển các sản phẩm dịch vụ tài chính phức với chi phí hợp lý, đồng thời đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI). Mặt khác, để thuyết phục bên cho vay, doanh nghiệp Việt Nam thường chuẩn hóa năng lực quản trị, nâng cao tính minh bạch, thực hiện đánh giá tác động môi trường và xã hội theo tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường đệm vốn chủ sở hữu, tức là gia tăng năng lực cạnh tranh tự thân của doanh nghiệp.

Nhìn xa hơn, vốn quốc tế cũng góp phần cơ cấu lại cung - cầu vốn trong nước. Khi doanh nghiệp lớn phát hành trái phiếu thành công ở nước ngoài, họ có thể giảm tỷ trọng vay trong nước. Thị trường vốn trong nước giảm bớt thiếu hụt, góp phần giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất, doanh nghiệp nhỏ và vừa mới có khả năng tiếp cận vốn trong nước.

Xu hướng vươn ra thị trường quốc tế để thu xếp nguồn vốn là minh chứng rõ nét cho sự trưởng thành, uy tín và chủ động của các tổ chức tài chính cũng như doanh nghiệp Việt Nam. Nguồn vốn quốc tế vừa là cơ hội lớn, nhưng cũng là bài kiểm tra khắt khe về năng lực của doanh nghiệp Việt. Việc xây dựng cấu trúc vốn tối ưu, quản trị tốt rủi ro tỷ giá và tuân thủ các chuẩn mực phát triển bền vững (ESG) chính là chìa khóa vàng giúp doanh nghiệp tiếp cận dòng vốn ngoại, mở rộng cơ hội cho sự phát triển bứt phá và bền vững trong tương lai.

Tin bài liên quan