Nhóm dẫn đầu vẫn duy trì vị thế
Trong khoảng 77 CTCK đã công bố báo cáo tài chính quý II/2026, có 65 đơn vị báo lãi và 12 đơn vị ghi nhận lợi nhuận âm. Riêng 6 công ty tốp đầu đã đóng góp 61% tổng lợi nhuận toàn ngành. “Ngôi vương” về lợi nhuận thuộc về VPBankS.
Sự trỗi dậy của VPBankS hay HDS (lãi gấp gần 4 lần cùng kỳ) cho thấy rõ lợi thế của mô hình CTCK nằm trong hệ sinh thái ngân hàng - nơi nguồn lực vốn dồi dào và tệp khách hàng được khai thác triệt để. Nhờ dòng vốn góp lớn từ ngân hàng mẹ hoặc các đợt phát hành tăng vốn thành công dưới sự hậu thuẫn của hệ sinh thái tài chính liên kết, nhóm CTCK này liên tục ghi nhận các đợt mở rộng bảng cân đối kế toán với tốc độ vượt trội.
Chẳng hạn, TCBS đứng đầu toàn ngành về quy mô tổng tài sản, với 100.592 tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026, tăng 25% so với cuối năm 2025; vốn chủ sở hữu bứt tốc lên 45.782 tỷ đồng. VPBankS mở rộng tổng tài sản lên gần 89.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 21,8% so với thời điểm cuối năm trước. HDS, sau khi HDBank nâng tỷ lệ sở hữu lên 90%, vốn chủ sở hữu bứt phá 257% so với cuối quý I/2026, lên hơn 13.419 tỷ đồng, thúc đẩy tổng tài sản đạt 20.264 tỷ đồng (tăng tới 240,6% so với cuối năm 2025). BSC ghi nhận tổng tài sản hơn 19.479 tỷ đồng, tăng 17% so với đầu năm. Hay OCBS đã hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 2.713 tỷ đồng, gấp 9 lần mức đầu năm 2025 sau khi chào bán hơn 151 triệu cổ phiếu riêng lẻ.
![]() |
Sở hữu lợi thế về bộ đệm vốn chủ sở hữu lớn và khả năng tiếp cận nguồn vốn nợ ngắn hạn chi phí thấp thông qua ngân hàng mẹ, nhóm CTCK này đang cho thấy vai trò trong cuộc đua margin thị trường. Trong Top 20 CTCK dẫn đầu về quy mô dư nợ cho vay cuối quý II/2026, 9 công ty có ngân hàng hậu thuẫn đã tăng dư nợ cho vay thêm hơn 18.700 tỷ đồng so với cuối quý I/2026, chiếm tới 62% tổng mức dư nợ tăng thêm của nhóm này (30.000 tỷ đồng)
Cụ thể, TCBS có dư nợ cho vay và ứng trước đạt hơn 51.500 tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026, tương ứng khoảng 51,2% tổng tài sản của doanh nghiệp. VPBankS có quy mô dư nợ cho vay ký quỹ và ứng trước tiền bán đạt 38.177 tỷ đồng, chiếm khoảng 42,9% tổng tài sản. LPBS ghi nhận dư nợ cho vay đạt gần 13.737 tỷ đồng (tăng hơn 19% so với quý I); trong đó, cho vay margin chiếm tới 13.635 tỷ đồng. HDS nâng quy mô cho vay lên hơn 5.800 tỷ đồng (cho vay margin chiếm 5.288 tỷ đồng), ghi nhận mức tăng 120% so với quý trước. BSC cho vay giao dịch ký quỹ đạt gần 9.371 tỷ đồng, tương ứng khoảng 48,1% tổng tài sản.
Để tài trợ cho cấu trúc tài sản quy mô lớn này, các CTCK tích cực đẩy mạnh sử dụng các khoản vay ngắn hạn. Với TCBS, tổng dư nợ vay đạt hơn 52.500 tỷ đồng (trong đó dư nợ vay ngắn và dài hạn chiếm 49.432 tỷ đồng), đưa tỷ lệ tổng nợ vay trên vốn chủ sở hữu lên mức 1,15 lần. BSC ghi nhận khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn đạt khoảng 11.815 tỷ đồng, chiếm tới gần 86% tổng nợ phải trả. Hay HDS phát sinh 4.420 tỷ đồng vay ngắn hạn.
Cuộc đua margin, lợi thế thuộc nhóm có ngân hàng mẹ hậu thuẫn
Dư nợ margin và tiền ứng toàn thị trường đã thiết lập đỉnh lịch sử mới, tiến gần 450.000 tỷ đồng, trong khi ghi nhận trên thị trường, nhu cầu đòn bẩy từ nhóm khách hàng cá nhân đang sụt giảm đáng kể do lãi suất cho vay margin duy trì ở mức cao, dao động từ 13 - 14%/năm.
Thực trạng này cho thấy một phần dư nợ cho vay từ các CTCK không đi vào giao dịch, nói cách khác là không đến từ nhu cầu đòn bẩy của nhà đầu tư cá nhân. Thay vào đó, dư nợ tăng do các deal cho vay doanh nghiệp, lãnh đạo trong bối cảnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng không dễ dàng tiếp cận. Điều này được thể hiện rõ khi các CTCK có ngân hàng hậu thuẫn ghi nhận dư nợ tăng mạnh.
Bức tranh tài chính quý II/2026 của nhóm CTCK có ngân hàng hậu thuẫn cho thấy một công thức trong việc thiết lập cấu trúc tài sản: Tăng vọt quy mô vốn chủ sở hữu làm bệ đỡ, đẩy mạnh tối đa dư nợ cho vay ký quỹ (margin) và tập trung danh mục tự doanh vào các công cụ nợ (trái phiếu chưa niêm yết, chứng chỉ tiền gửi).
Ngược lại, nhóm CTCK có vốn ngoại như Mirae Asset hay KIS Việt Nam đang dần hụt hơi trong cuộc đua cho vay margin do chậm chân trong các kế hoạch tăng vốn.
Hoạt động tự doanh phân cực
Hoạt động tự doanh đóng vai trò là “biến số” với lợi nhuận của các CTCK. Tùy thuộc vào chiến lược phân bổ vào tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) hay tài sản sẵn sàng để bán (AFS), kết quả kinh doanh của các đơn vị đã bộc lộ sự phân cực rõ nét.
Một đặc trưng nổi bật trong cơ cấu tài sản tự doanh (FVTPL, AFS và HTM) của nhóm CTCK có ngân hàng hậu thuẫn là sự ưu tiên tối đa cho các công cụ nợ có thu nhập cố định (trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi có kỳ hạn ngắn). Chiến lược này giúp doanh nghiệp tận dụng năng lực phân phối qua mạng lưới ngân hàng mẹ và giảm thiểu rủi ro biến động giá cổ phiếu.
BSC là trường hợp điển hình. Danh mục FVTPL của Công ty tại thời điểm cuối quý II/2026 đạt 6.535 tỷ đồng, tăng 46% so với đầu năm. Cơ cấu danh mục cho thấy sự thận trọng với tỷ trọng trái phiếu chiếm ưu thế (niêm yết 2.023 tỷ đồng, chưa niêm yết 2.557 tỷ đồng) mang lại nguồn thu ổn định. Trong danh mục cổ phiếu niêm yết trị giá 856 tỷ đồng, công ty này tập trung vào các mã trọng điểm như HPG (138 tỷ đồng), TCB (85 tỷ đồng) và Phan Vũ (81 tỷ đồng).
HDS ghi nhận danh mục FVTPL đạt 10.251 tỷ đồng vào cuối quý (chiếm hơn 50% tổng tài sản), trong đó trái phiếu chưa niêm yết chiếm tới 8.935 tỷ đồng (tương ứng 87% danh mục tự doanh FVTPL và 44% tổng tài sản). Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (HTM) là tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn đạt hơn 2.746 tỷ đồng.
LPBS với danh mục FVTPL đạt hơn 17.260 tỷ đồng thì phân bổ tới 6.318 tỷ đồng vào chứng chỉ tiền gửi (tăng 117% so với quý I/2026) và hơn 3.393 tỷ đồng vào trái phiếu niêm yết. Các khoản đầu tư HTM là tiền gửi có kỳ hạn đạt hơn 5.111 tỷ đồng.
TCBS có danh mục tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS) được duy trì ở quy mô rất lớn đạt 34.558 tỷ đồng, chiếm 34,4% tổng tài sản.
Trong khi đó, mảng tự doanh của các CTCK không có ngân hàng đứng sau chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi biến động của thị trường cổ phiếu niêm yết trong quý II/2026. Minh chứng rõ nét nhất cho xu hướng này là Chứng khoán VIX.
Là định chế tài chính phụ thuộc lớn vào tự doanh cổ phiếu, VIX chỉ đạt gần 75 tỷ đồng lợi nhuận trong quý II vừa qua, ghi nhận mức sụt giảm tới 95% so với cùng kỳ. Nguyên nhân trực tiếp đến từ khoản lỗ FVTPL vượt mức 1.129 tỷ đồng, trong đó riêng lỗ đánh giá lại danh mục đầu tư (lãi trên giấy co hẹp) chiếm tới 1.090 tỷ đồng khi thị trường rung lắc mạnh.
Tương tự, Chứng khoán Vietcap (VCI) ghi nhận mảng tự doanh FVTPL lỗ ròng 71 tỷ đồng (cùng kỳ năm trước lỗ ròng 12 tỷ đồng) do doanh thu bán tài sản FVTPL giảm 53%, xuống còn 271 tỷ đồng, trong khi lỗ bán tài sản FVTPL lên tới hơn 306 tỷ đồng. Đối với danh mục tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS) trị giá 12.243 tỷ đồng (tính theo giá gốc), mặc dù ghi nhận chênh lệch tăng giá ròng tạm tính khoảng 1.804 tỷ đồng (chủ yếu nhờ khoản lãi từ IDP đạt 1.769 tỷ đồng, TDM lãi 236 tỷ đồng và MCH lãi 165 tỷ đồng), song hai khoản đầu tư lớn vào FPT và KDH đang tạm lỗ lần lượt 212 tỷ đồng và 187 tỷ đồng...
Ở nhóm công ty chứng khoán độc lập tầm trung, SSI có nét đặc trưng khá riêng, được duy trì qua nhiều quý, danh mục FVTPL tiếp tục tập trung vào tài sản có thu nhập cố định, trong đó chứng chỉ tiền gửi chiếm tới 62% và trái phiếu chiếm 34% danh mục.
Trong khi đó, một số công ty tăng vốn điều lệ lớn đã bổ sung thêm nguồn lực để đẩy mạnh mảng tự doanh vào các cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt. Tiêu biểu như Chứng khoán Bảo Minh (BMS), sau khi tăng vốn điều lệ vượt mốc 2.000 tỷ đồng, đã nâng quy mô danh mục FVTPL lên gần 1.841 tỷ đồng theo giá gốc (tăng 74,2% so với đầu năm). Trong đó, khoảng 700 tỷ đồng được phân bổ vào danh mục cổ phiếu và ghi nhận giá trị hợp lý đạt gần 810 tỷ đồng vào cuối quý II, tạm lãi khoảng 16,6% so với giá gốc.
Với HSC, doanh thu mảng tự doanh (lãi từ tài sản tài chính FVTPL) ghi nhận 244 tỷ đồng, giảm 27% so với cùng kỳ năm trước - chủ yếu được nâng đỡ bởi cổ tức và tiền lãi phát sinh từ tài sản tài chính FVTPL đạt gần 353 tỷ đồng (tăng 57% so với cùng kỳ). Sự biến động mạnh mẽ nhất nằm ở quy mô danh mục cổ phiếu niêm yết FVTPL.
Tính đến ngày 30/6/2026, giá trị hợp lý của danh mục cổ phiếu niêm yết FVTPL của HSC đạt gần 897 tỷ đồng, tăng mạnh so với con số hơn 18 tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Cơ cấu danh mục cổ phiếu được định hình hoàn toàn bằng nhóm bluechip, gồm MWG, FPT, ACB, VPB, HPG. HSC đã tất toán, đưa các khoản đầu tư vào STB và TCB ra khỏi danh mục thuyết minh.
Bên cạnh danh mục cổ phiếu niêm yết, tài sản tự doanh của HSC vẫn được neo giữ ở các công cụ tài chính khác, gồm chứng chỉ quỹ ETF, trái phiếu và quỹ mở với giá trị hợp lý lên tới 9.133 tỷ đồng (giảm gần 10% so với cuối quý I) và đang ghi nhận mức lãi tạm tính 150 tỷ đồng so với giá gốc.
Môi giới không còn là động lực tăng trưởng lợi nhuận
Mảng môi giới truyền thống đang chịu áp lực nặng nề khi thanh khoản thị trường không tương xứng với quy mô dư nợ. Xu hướng phí giao dịch tiến dần về 0 (Zero Fee) và sự cạnh tranh thị phần gay gắt đã bào mòn đáng kể doanh thu của mảng này.
Môi giới không còn là động lực tăng trưởng lợi nhuận chính mà trở thành “kênh dẫn” khách hàng. Mục tiêu của các CTCK hiện nay là thu hút người dùng vào hệ sinh thái để khai thác các dịch vụ có biên lợi nhuận cao hơn như margin và tư vấn quản lý tài sản.
