Thái Lan miễn thuế từ lợi nhuận giao dịch tài sản mã hóa cho nhà đầu tư trong vòng 5 năm

Thái Lan miễn thuế từ lợi nhuận giao dịch tài sản mã hóa cho nhà đầu tư trong vòng 5 năm

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Thái Lan đang áp dụng mức thuế thu nhập cá nhân 0% đối với lợi nhuận từ một số giao dịch tài sản mã hóa trong giai đoạn 2025-2029. Tuy nhiên, ưu đãi này chỉ dành cho cá nhân giao dịch qua sàn, công ty môi giới hoặc đại lý được cơ quan quản lý Thái Lan cấp phép.

Ưu đãi thuế có thời hạn và điều kiện rõ ràng

Thông tin Thái Lan trở thành “thiên đường thuế crypto 0%” được nhắc đến nhiều trong những ngày gần đây, sau khi Changpeng Zhao, nhà sáng lập Binance, chia sẻ lại chính sách này trên mạng xã hội. Tuy nhiên, đây không phải một chính sách mới được ban hành trong năm 2026, cũng không phải cơ chế miễn thuế toàn diện cho mọi khoản thu nhập liên quan đến tiền mã hóa.

Chính sách được Nội các Thái Lan phê duyệt về nguyên tắc ngày 17/6/2025 và sau đó được cụ thể hóa trong Quy định Bộ trưởng số 399. Văn bản được công bố trên Công báo Hoàng gia ngày 5/9/2025, nhưng áp dụng cho khoản thu nhập đủ điều kiện phát sinh từ ngày 1/1/2025 đến hết ngày 31/12/2029.

Quy định cho phép miễn thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi nhuận phát sinh từ việc chuyển nhượng tiền mã hóa và token kỹ thuật số. “Lợi nhuận từ chuyển nhượng” có thể hiểu đơn giản là phần chênh lệch dương giữa giá bán và giá vốn. Ví dụ, một nhà đầu tư mua Bitcoin với giá 1 triệu baht, sau đó bán với giá 1,3 triệu baht, thì khoản chênh lệch 300.000 baht là phần lợi nhuận có thể thuộc diện được miễn thuế nếu giao dịch đáp ứng đầy đủ điều kiện.

Điểm quan trọng nhất nằm ở nơi giao dịch diễn ra. Nhà đầu tư chỉ được hưởng ưu đãi nếu giao dịch thông qua sàn tài sản số, công ty môi giới hoặc đại lý được Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Thái Lan cấp phép. Như vậy, đây không phải ưu đãi dành cho mọi giao dịch Bitcoin hay token, mà là ưu đãi được gắn chặt với thị trường có giám sát.

Nếu giao dịch diễn ra trên nền tảng không được cấp phép tại Thái Lan, các sàn nước ngoài không có giấy phép tại nước này hoặc dưới hình thức chuyển tiền ngang hàng giữa các cá nhân, khoản lợi nhuận có thể không thuộc diện miễn thuế. Trong trường hợp đó, thu nhập có thể tiếp tục được tính theo biểu thuế thu nhập cá nhân lũy tiến, với mức cao nhất có thể lên tới 35% tùy tổng thu nhập và hoàn cảnh cụ thể của người nộp thuế.

Cơ chế ưu đãi trên cho thấy Thái Lan không chỉ muốn giảm chi phí thuế cho nhà đầu tư, mà còn muốn khuyến khích dòng tiền giao dịch đi qua các tổ chức nội địa có thể được giám sát.

Không phải mọi thu nhập crypto đều được miễn thuế

Một điểm dễ gây hiểu lầm là việc gọi Thái Lan là nơi “không đánh thuế crypto”. Quy định hiện hành chỉ nhắm đến lợi nhuận từ giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa đủ điều kiện của cá nhân. Nó không tự động miễn thuế cho toàn bộ các nguồn thu trong hệ sinh thái crypto.

Chẳng hạn, phần thưởng staking, thu nhập từ đào coin, tiền lương được trả bằng token, doanh thu kinh doanh bằng tài sản số hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp không mặc nhiên được hưởng mức thuế 0%.

Việc một cá nhân có được miễn thuế hay không còn có thể phụ thuộc vào tình trạng cư trú thuế, nguồn gốc khoản thu nhập và các nghĩa vụ thuế xuyên biên giới. Điều này đặc biệt quan trọng với nhà đầu tư nước ngoài, người làm việc từ xa hoặc người có tài sản, tài khoản và nguồn thu ở nhiều quốc gia.

Vì vậy, nhà đầu tư không nên hiểu chính sách này theo cách đơn giản là chuyển đến Thái Lan thì mọi giao dịch tài sản mã hóa sẽ không còn nghĩa vụ thuế. Ưu đãi chỉ xác định cách Thái Lan xử lý thuế với các khoản lợi nhuận đáp ứng điều kiện theo luật của nước này. Nó không thay thế nghĩa vụ thuế mà một cá nhân có thể phải thực hiện tại quốc gia khác mà họ mang quốc tịch, cư trú hoặc có nguồn thu nhập.

Thái Lan muốn hút vốn nhưng không nới lỏng giám sát

Bộ Tài chính Thái Lan mô tả chính sách này là một phần của kế hoạch xây dựng quốc gia thành “Trung tâm Tài sản số” toàn cầu. Mục tiêu không chỉ là tăng lượng giao dịch crypto, mà còn kéo hoạt động giao dịch, lưu ký, xác minh khách hàng và chống rửa tiền về trong hệ thống quản lý của Thái Lan.

Việc gắn ưu đãi thuế với các đơn vị được cấp phép giúp các sàn và công ty môi giới trong nước có lợi thế hơn các nền tảng hoạt động ngoài phạm vi quản lý. Các đơn vị được cấp phép phải tuân thủ yêu cầu về xác minh danh tính khách hàng (KYC), và các quy định chống rửa tiền (AML).

Cùng với đó, Thái Lan trong thời gian qua cũng tăng cường kiểm soát các nền tảng hoạt động không có giấy phép. Điều này cho thấy nước này đang chọn cách “mở cửa có điều kiện”: ưu đãi cho giao dịch hợp pháp trong khuôn khổ giám sát, nhưng không tự do hóa hoàn toàn hoạt động crypto.

Chính sách thuế cũng đi cùng các bước phát triển hạ tầng tài sản số khác, gồm tham vấn về quỹ ETF crypto, thị trường phái sinh và token hóa tài sản.

Dù tạo ưu đãi cho giao dịch đầu tư, Thái Lan vẫn không công nhận crypto là phương tiện thanh toán phổ biến trong nền kinh tế. Các quy định hiện hành tiếp tục hạn chế việc doanh nghiệp dùng tài sản số để thanh toán hàng hóa và dịch vụ ngoài những mô hình được phê duyệt. Một số chương trình thí điểm cho phép du khách chuyển đổi tài sản số sang baht trước khi thanh toán qua mã QR, nhưng người bán vẫn nhận baht thay vì nhận crypto trực tiếp.

Có thể thấy, cách tiếp cận của Thái Lan gần với mô hình thu hút giao dịch tài sản số vào hệ thống được quản lý hơn là mô hình “thiên đường thuế” với giám sát tối thiểu. Thành công của chính sách sẽ phụ thuộc vào việc ưu đãi thuế có đủ sức thu hút doanh nghiệp và nhà đầu tư trong khi vẫn duy trì được yêu cầu tuân thủ hay không.

Việt Nam chuẩn bị cơ chế thuế cho giai đoạn thí điểm

Tại Việt Nam, chính sách thuế đối với tài sản mã hóa đang được hình thành song hành với quá trình triển khai thí điểm thị trường. Đây là bước chuẩn bị cần thiết để khi các hoạt động giao dịch, chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa phát sinh trên thị trường được quản lý, nghĩa vụ thuế của nhà đầu tư và doanh nghiệp có cơ sở xác định rõ ràng hơn.

Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa quy định thời gian thí điểm là 5 năm. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 32/2026/TT-BTC hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa. Thông tư có hiệu lực từ ngày 27/3/2026 và được áp dụng trong thời gian thí điểm hoặc đến khi có chính sách thuế chính thức thay thế.

Tiếp đó, Thông tư 41/2026/TT-BTC hướng dẫn việc khấu trừ, kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế trong thị trường tài sản mã hóa. Theo cơ chế này, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế trong một số trường hợp phát sinh giao dịch qua nền tảng. Cách làm này giúp việc thu thuế có thể gắn trực tiếp với hoạt động trên thị trường được cấp phép, thay vì để nhà đầu tư tự thực hiện toàn bộ thủ tục sau khi giao dịch đã hoàn tất.

Điểm đáng chú ý là hoạt động chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, “không chịu VAT” không có nghĩa giao dịch tài sản mã hóa được miễn toàn bộ nghĩa vụ thuế. Thu nhập phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng vẫn được xác định để tính thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp, tùy thuộc vào chủ thể tham gia giao dịch.

Với cá nhân, không phân biệt là cá nhân cư trú hay không cư trú, khoản thuế thu nhập cá nhân được áp dụng theo tỷ lệ 0,1% trên giá chuyển nhượng của từng lần giao dịch tài sản mã hóa qua tổ chức cung cấp dịch vụ. Điều này có nghĩa thuế được tính trên tổng giá trị bán hoặc chuyển nhượng trong từng giao dịch, không tính trực tiếp trên phần lãi ròng.

Chẳng hạn, nếu một nhà đầu tư bán lượng tài sản mã hóa trị giá 100 triệu đồng trên nền tảng thuộc phạm vi áp dụng của cơ chế thí điểm, khoản thuế thu nhập cá nhân tạm tính theo tỷ lệ 0,1% là 100.000 đồng. Cách tính này tương tự cơ chế tính thuế đối với chuyển nhượng chứng khoán theo doanh thu từng lần bán, giúp việc khấu trừ tại nguồn và quản lý giao dịch thường xuyên thuận tiện hơn.

Đối với doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản mã hóa được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 20%, trừ trường hợp thuộc diện ưu đãi theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Phần thu nhập chịu thuế được xác định dựa trên chênh lệch giữa giá bán và giá mua, sau khi trừ các chi phí hợp lệ liên quan đến hoạt động chuyển nhượng.

Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa cũng xác định thu nhập chịu thuế theo nguyên tắc chung. Với tổ chức nước ngoài có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa tại Việt Nam thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ, chính sách áp dụng theo hướng đơn giản hơn, với mức thu 0,1% trên doanh thu của từng lần chuyển nhượng.

Tin bài liên quan