Nguy cơ nợ xấu tăng
Thời gian gần đây, hàng loạt ngân hàng liên tục rao bán, đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Chỉ riêng ngày 30/6/2026, VietinBank đã đăng khoảng 10 thông báo liên quan đến xử lý nợ xấu. Nội dung trải rộng từ lựa chọn đơn vị đấu giá tài sản, bán khoản nợ, khách hàng tự bán tài sản để trả nợ đến xử lý tài sản bảo đảm thông qua VietinBank AMC.
Tại Agribank, công ty quản lý nợ trực thuộc Ngân hàng (Agribank AMC) cũng liên tục đưa nhiều khoản nợ doanh nghiệp ra đấu giá. Đáng chú ý, có khoản vay mà riêng phần lãi phát sinh đã vượt 35 tỷ đồng...
Nhiều ngân hàng khác như BIDV, Vietcombank, MSB, Agribank hay Nam A Bank đang đẩy mạnh rao bán tài sản thế chấp nhằm thu hồi nợ vay bởi áp lực nợ xấu quay trở lại trong quý I/2026 sau một thời gian ổn định.
Số liệu từ báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng trên sàn chứng khoán cho thấy, tổng nợ xấu tính đến ngày 31/3/2026 đạt 292.160 tỷ đồng. So với cuối năm 2025, con số này đã tăng thêm 28.065 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 11%. Xu hướng nợ xấu đi lên xuất hiện ở phần lớn các nhà băng, khi chỉ có VietinBank, NamABank và ABBank ghi nhận mức giảm ở chỉ tiêu này.
Tại Sacombank, theo ông Loic Faussier, Quyền Tổng giám đốc, Ngân hàng đang ở tình thế rất nan giải khi NIM bị thu hẹp, tỷ lệ nợ xấu ước tính có thể tăng lên 5,6%. Chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu trong quý II/2026, theo tính toán nhanh của Sacombank, có thể tăng lên mức hơn 4.700 tỷ đồng, thuộc nhóm cao nhất trong ngành.
Lợi nhuận trước thuế quý II/2026 của Sacombank sau khi trừ chi phí dự phòng dự kiến chỉ dao động khoảng 1.900 - 2.000 tỷ đồng, giảm gần 50% so với cùng kỳ và tiếp nối đà giảm trong quý đầu năm nay.
Mặt bằng lãi suất huy động tăng cao, lãi suất cho vay lên tới 12 - 15%/năm với khách hàng doanh nghiệp đang khiến nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa chật vật, thậm chí không còn dám vay vốn để mở rộng sản xuất. Rủi ro nợ xấu theo đó cũng tăng lên.
Cũng theo ông Loic Faussier, trong quá trình rà soát và phản ánh đầy đủ chất lượng tài sản, dư nợ thuộc nhóm có mức độ rủi ro cao nhất (nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn) của Sacombank có thể tiếp tục gia tăng, kéo theo quy mô nợ xấu tăng từ khoảng 62.000 tỷ đồng tại thời điểm 30/6/2026 lên hơn 86.000 tỷ đồng hiện nay, chưa bao gồm nợ CIC và con số này vẫn có thể tiếp tục lớn hơn nữa trong quý III/2026.
Ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, hệ thống ngân hàng đang đối mặt với tình trạng mất cân đối cung - cầu vốn khi nhu cầu đầu tư của nền kinh tế rất lớn nhưng tốc độ huy động vốn lại thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Thanh khoản chịu áp lực khiến lãi suất huy động tăng, kéo theo lãi suất cho vay đi lên.
Ông Tú cũng cảnh báo, khó khăn của doanh nghiệp đang làm gia tăng nguy cơ phát sinh nợ xấu. Trong khi đó, việc xử lý nợ xấu (hiện hữu) đang gặp “nút thắt” lớn, đó là Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, với các biện pháp mạnh mẽ về xử lý nợ xấu (như quyền thu giữ tài sản đảm bảo, chuyển nhượng tài sản đảm bảo và áp dụng thủ tục rút gọn tại tòa án) hết hiệu lực từ đầu năm 2024. Quá trình “luật hóa” các quy định về thu hồi nợ còn chưa đầy đủ, khiến việc xử lý tài sản bảo đảm kéo dài, làm chậm quá trình thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng.
Chất lượng tài sản đang chịu áp lực
Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính bình quân 5 năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn là 3,8%. Chỉ số LDR toàn hệ thống (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động) đang ở mức 111 - 112%, nghĩa là cho vay ra 112 đồng thì chỉ huy động được 100 đồng, còn 12 đồng ngân hàng phải huy động từ nguồn khác. Dù thời gian qua, toàn hệ thống luôn đảm bảo 100% khả năng chi trả, giữ cho mạch máu nền kinh tế luôn thông suốt, song trong bối cảnh tín dụng tăng cao hơn huy động, việc đảm bảo an toàn thanh khoản gặp nhiều thách thức. Đây cũng là lý do khiến lãi suất tăng mạnh từ tháng 11/2025 đến nay.
Đáng chú ý, mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN; trong đó, nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ mức 30% hiện tại lên 40%. Đây không phải là một sự nới lỏng đơn thuần mà là một bước điều chỉnh mang tính linh hoạt, tạo thêm dư địa tài chính cho nền kinh tế trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn đang gia tăng mạnh mẽ.
Mặc dù nới trần tỷ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn và nới room tín dụng với các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, dự án nhà ở xã hội, bất động sản công nghiệp, song Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định, việc tăng thêm dư địa cung ứng vốn cho các ngân hàng không có nghĩa là nới lỏng chất lượng tín dụng, nới lỏng quản trị. Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, “không đánh đổi rủi ro lấy tăng trưởng”. Vì thế, các tổ chức tín dụng vẫn phải tuân thủ chặt chẽ quy trình để đảm bảo chất lượng tín dụng như hiện nay.
Nhận định được ông Phương Nguyễn, CFA, chuyên viên phân tích cao cấp Công ty Chứng khoán Shinhan Việt Nam đưa ra, tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng thường có xu hướng tăng nhẹ trong quý I do các ngân hàng tập trung xử lý nợ nhiều hơn vào giai đoạn cuối năm trước, song với dữ liệu hiện tại, còn khá sớm để đưa ra kết luận về xu hướng chất lượng tài sản của cả năm 2026. Tính đến cuối quý I/2026, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng niêm yết duy trì ở khoảng 1,9%, tương đối ổn định trong ba quý gần đây, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ đạt gần 83%.
Tuy nhiên, theo ông Phương, xét trên dữ liệu lịch sử, mặt bằng lãi suất cao thời gian gần đây thường tạo áp lực nhất định lên chất lượng tài sản. Do đó, đây sẽ tiếp tục là chỉ tiêu cần được ngân hàng theo dõi trong các quý tới.
Công ty Chứng khoán VCBS nhận định, rủi ro nợ xấu của hệ thống ngân hàng năm 2026 cần được theo dõi chặt chẽ, nhất là tại những ngân hàng có tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản vượt 30% tổng dư nợ. Thực tế, áp lực đảo nợ từ nhóm bất động sản và cho vay mua nhà có thể tiếp tục gia tăng trong năm 2026 do áp lực lãi vay cao.
Theo TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, bức tranh xử lý nợ xấu trong thời gian tới sẽ phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng. Các ngân hàng lớn có lợi thế hơn nhờ hệ thống quản trị rủi ro hoàn chỉnh, nguồn lực tài chính mạnh và kinh nghiệm xử lý nợ hiệu quả. Còn ngân hàng nhỏ sẽ gặp khó khăn hơn do chất lượng tài sản bảo đảm thấp và áp lực nợ tồn đọng kéo dài.