Tín hiệu từ kiệt thanh khoản

Tín hiệu từ kiệt thanh khoản

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Thanh khoản về vùng đáy nhưng một số nhóm cổ phiếu được đánh giá nhạy cảm dòng tiền - nhóm suy yếu đầu tiên khi thị trường vào xu hướng giảm mới - lại chủ yếu dao động trong trạng thái tích lũy, thay vì xuất hiện các phiên bán tháo hoặc phá vỡ xu hướng trung hạn. Đây là hiện tượng được nhiều môi giới lâu năm đang đặc biệt chú ý.

Thanh khoản thu hẹp liên tục trong tháng 5 và tình trạng này kéo dài sang tuần đầu tháng 6, phản ánh tâm lý thận trọng của thị trường. Phiên giao dịch cuối tuần qua, thanh khoản sàn HOSE chỉ đạt xấp xỉ 13.825 tỷ đồng.

Thảo luận xung quanh diễn biến thanh khoản của thị trường chứng khoán thời gian gần đây, nhiều môi giới có thâm niên trên thị trường nhấn mạnh, ở các giai đoạn tạo đáy trước đây, thanh khoản thị trường thường giảm về mức rất thấp. Chẳng hạn, năm 2022, thanh khoản có thời điểm rơi về vùng 8.000 - 10.000 tỷ đồng/phiên; năm 2024 là 12.000 - 14.000 đồng/phiên và hiện dưới 20.000 tỷ đồng/phiên (sở dĩ mặt bằng thanh khoản gia tăng vì mức độ tham gia thị trường của người dân đang tăng lên so với các chu kỳ trước, các doanh nghiệp cũng có quy mô vốn hóa lớn hơn theo thời gian và từ 2025 tới nay, thị trường đón nhận thêm lượng hàng hóa mới khá lớn). Theo đó, thanh khoản thường là tín hiệu để giới đầu tư nhìn nhận đã đi tới giai đoạn cuối của chu kỳ điều chỉnh của thị trường hay chưa.

Thông thường, nếu thị trường thực sự bước vào một xu hướng giảm mới, nhóm cổ phiếu mang tính thị trường cao sẽ là nhóm suy yếu đầu tiên. Nhưng giai đoạn này, các nhóm cổ phiếu năng động như chứng khoán (SSI, VND, HCM, VIX), ngân hàng (STB, TCB, HDB, OCB), hay nhóm GEX… lại không có hiện tượng bán tháo hay phá vỡ các xu hướng trung hạn. Trong đó, nhóm cổ phiếu chứng khoán gần như đứng yên, dù thanh khoản lùi về vùng thấp nhất trong nhiều tháng. Đây là các minh chứng để nhà đầu tư quan sát nguồn cung giá thấp đã được hấp thụ phần lớn.

Thời gian qua, chỉ số VN-Index chịu ảnh hưởng lớn từ nhóm Vingroup, nên vẫn đang ở vùng cao trong lịch sử. Nhưng nếu loại bỏ ảnh hưởng của nhóm này, thị giá phần lớn cổ phiếu mang tính thị trường đã điều chỉnh từ 15 - 30% so với đỉnh ngắn hạn và theo nhiều môi giới tham gia thị trường lâu năm, đã về vùng hỗ trợ quan trọng, với mặt bằng định giá tốt hơn nhiều so với đầu năm. Nói cách khác, nhiều cổ phiếu đã hoàn thành phần lớn quá trình chiết khấu trong khi VN-Index chưa phản ánh đầy đủ điều đó.

Công ty Chứng khoán VNDirect cho rằng, định giá của VN-Index đang duy trì dưới mức bình quân 10 năm. Cụ thể, P/E trượt 12 tháng của VN-Index đã giảm về mức 13,86 lần, thấp hơn mức trung bình 10 năm là 15,4 lần, nhờ tăng trưởng lợi nhuận tích cực của các doanh nghiệp niêm yết trong quý I/2026. Đáng chú ý, nếu loại trừ nhóm cổ phiếu Vingroup, gồm VIC, VHM, VRE và VPL, P/E trượt 12 tháng của VN-Index chỉ còn khoảng 11,4 lần.

Thêm một yếu tố có thể làm nền tảng cho kỳ vọng thị trường đang tạo đáy, theo giới chuyên gia phân tích, là diễn biến của nhóm cổ phiếu chứng khoán. Đây là nhóm phản ánh trực tiếp kỳ vọng của thị trường, khi thị trường bước vào chu kỳ tăng mới, chứng khoán thường là nhóm tạo đáy sớm và phục hồi trước nhờ hưởng lợi từ thanh khoản, dư nợ margin và hoạt động tự doanh. Cụ thể, mặc dù thanh khoản toàn thị trường đã giảm về vùng đáy chu kỳ, các cổ phiếu chứng khoán lớn vẫn duy trì nền giá khá tốt và không xuất hiện hiện tượng bán tháo.

Một điểm sáng đến từ việc phiên cuối tuần qua, khối ngoại mua ròng 306 tỷ đồng, tập trung vào các mã VIC, FPT, PLX, VNM, VIX. Con số này được chú ý trong bối cảnh tháng 5, khối ngoại bán ròng gần 20.000 tỷ đồng, mức cao nhất trong 7 tháng qua. Nhìn lại giai đoạn cuối năm 2022, định giá P/E thị trường rớt xuống dưới 10 lần, khối ngoại cũng có chuỗi mua ròng mạnh mẽ.

Trước đó, khối ngoại bán ròng gần như xuyên suốt tháng 5, đỉnh điểm với quy mô gần 3.200 tỷ đồng trong phiên 22/5/2026. Ngược lại, thị trường ghi nhận đúng một phiên mua ròng với quy mô hơn 254 tỷ đồng.

Việc khối ngoại liên tục rút vốn trên đà tăng của VN-Index cho thấy lực đỡ từ dòng tiền trong nước đang đóng vai trò chủ đạo trên thị trường. Tuy nhiên, động thái từ khối ngoại cũng là chỉ báo được chú ý bởi phần lớn nhà đầu tư tổ chức, có góc nhìn chuyên nghiệp chứ không mang tính FOMO như nhà đầu tư cá nhân trong nước.

Làm thế nào để vốn ngoại trở lại? Những yếu tố kỹ thuật như nâng hạng thị trường, tăng cung hàng hóa... theo góc nhìn của nhà đầu tư kinh nghiệm, chỉ là bề nổi. Yếu tố thuyết phục nhà đầu tư lớn nhất là phải kiếm được lợi nhuận. Xét bình diện khu vực, những thị trường cạnh tranh với Việt Nam như Hàn Quốc, Trung Quốc đã có mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2025 và nửa đầu 2026. Chứng khoán Mỹ cũng liên tục lập đỉnh mới, với mức tăng ít nhất 40% đối với các cổ phiếu công nghệ mang tính quốc dân như Nvidia, cổ phiếu bán dẫn Omron còn tăng gần 5 lần.

Khó kiếm lãi nên vốn ngoại rút ròng. Theo ông Petri Deryng, Nhà sáng lập lý Quỹ Pyn Elite Fund, tại các thị trường mới nổi, Ấn Độ đã nhận được dòng vốn khá tốt. Hàn Quốc và thậm chí cả Hồng Kông (Trung Quốc) đã thu hút được một số dòng vốn, nhưng Việt Nam lại chưa thu hút được dòng vốn quốc tế.

“Tôi nhận thấy là nếu nhìn vào Việt Nam, thị trường hoạt động tốt, chỉ số hoạt động tốt và nền kinh tế cũng khá khả quan trong 12 tháng qua, với triển vọng khá hứa hẹn, nhưng chỉ số lại bị chi phối bởi rất ít cổ phiếu. Điều này gây ra khó khăn cho nhiều nhà đầu tư theo trường phái cơ bản, bởi vì họ đang hoạt động kém hiệu quả hơn so với chỉ số, dẫn đến việc khách hàng của họ không hài lòng. Vì vậy, khách hàng có thể rút tiền và các nhà quản lý quỹ gặp khó khăn khi đầu tư vào một quốc gia mà nếu bạn chọn các cổ phiếu theo trường phái cơ bản một cách rộng rãi, bạn không thu được lợi nhuận mà lại thua lỗ so với chỉ số”.

Đối với thị trường thứ cấp, mức độ tăng cần được lan tỏa, thay vì co cụm ở vài cổ phiếu nhỏ lẻ. Ở thị trường sơ cấp, theo bà Vương Thị Huyền, Tổng giám đốc Fast Capital, cần có thêm những thương vụ mới thông qua M&A. Điều này đang được kỳ vọng khi Nhà nước đẩy nhanh tốc độ thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp.

Theo dữ liệu từ Cục Quản lý doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, tính đến nay, có 497 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 200 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ. Nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành nghề mà Nhà nước không cần giữ vốn chi phối.

Nhìn nhận về triển vọng thị trường thời gian tới, VinaCapital tính toán, đà tăng trưởng lợi nhuận của VN-Index nhiều khả năng sẽ chậm lại khi tác động kinh tế của chiến sự Trung Đông dần lan tỏa, trong khi mặt bằng lãi suất cao hơn được dự báo sẽ gây sức ép lên biên lợi nhuận của các ngân hàng trong những tháng còn lại của năm. Tuy nhiên, VinaCapital nhấn mạnh, định giá của phần lớn thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở mức tương đương như trong thời kỳ khủng hoảng, trái ngược với các điều kiện kinh tế thực tế nhìn chung vẫn ổn định.

Bên cạnh đó, Việt Nam đang triển khai một loạt cải cách trên diện rộng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng các tiêu chí liên quan đến việc được đưa vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE Russell, cũng như tháo gỡ để tái khởi động các dự án bất động sản bị đình trệ... VinaCapital cho rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa phản ánh đầy đủ tác động của các cải cách này, do lợi ích sẽ được hiện thực hóa dần theo thời gian thông qua thanh khoản cải thiện, số lượng doanh nghiệp niêm yết gia tăng, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và việc tái khởi động các dự án chậm tiến độ.

Về chiến lược đầu tư trong ngắn hạn, nhiều chuyên gia phân tích khuyến nghị, chiến lược tối ưu vẫn là tận dụng các nhịp rung lắc để cơ cấu lại danh mục, ưu tiên nhóm cổ phiếu có nền tảng tài chính lành mạnh, định giá hấp dẫn và câu chuyện tăng trưởng chưa phản ánh hết vào giá, duy trì tỷ trọng tiền mặt hợp lý và không mua đuổi trong các nhịp hồi phục.

Tin bài liên quan