Cần phát hiện CTCK phá sản để bảo vệ nhà đầu tư

(ĐTCK- Online) Đầu tháng 11/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phá sản (LPS) đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới, TTCK nội địa khó khăn, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính – chứng khoán lao đao, đây là một động thái được đánh giá là kịp thời và rất cần thiết. ĐTCK đã có cuộc trao đổi với Ông Đào Hữu Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty chứng khoán Click&Phone xung quanh vấn đề này.

Theo ông, một Công ty chứng khoán hay Công ty quản lý quỹ (gọi chung là doanh nghiệp chứng khoán - DNCK) khi nào thì được coi là phá sản?  

Theo thống kê, trong giai đoạn khủng hoảng 1997, trên thế giới cứ 100 doanh nghiệp bị phá sản, thì có khoảng hơn 25 doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Hiện tại ở Việt Nam có trên 100 CTCK và Công ty Quản lý (DNCK) quỹ đã được UBCKNN cấp phép, trong đó khoảng 90 công ty đã chính thức cung cấp dịch vụ quản lý tài sản (chứng khoán, sổ cổ đông, tiền...) cho nhà đầu tư. Một DNCK sẽ được coi là lâm vào tình trạng phá sản khi nó không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đến hạn với các chủ nợ của mình.

 

Như vậy, DNCK phá sản sẽ ảnh hưởng như thế nào tới nhà đầu tư ?

Trong trường hợp DNCK vẫn đang thực hiện quản lý tiền gửi của NĐT, NĐT thực tế chính là chủ nợ của DN. Bên cạnh đó, các chứng khoán hay danh mục đầu tư ủy quyền của NĐT do DNCK quản lý ghi sổ cũng là một loại tài sản đặc biệt của NĐT, không nằm trong danh mục tài sản của DNCK bị thanh lý. Do vậy, việc thất thóat tiền và tài sản dưới dạng chứng khoán của NĐT hòan toàn thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự về giải quyết tranh chấp và NĐT hòan tòan có quyền khởi kiện đòi quyền lợi với phần tài sản của mình nếu DNCK xâm phạm tài sản này.

Cần phân biệt tài sản có thể bị thanh lý của DNCK (tiền mặt, TSCĐ, danh mục CK tự doanh…) với tài sản của NĐT nhờ quản lý. Rõ ràng, việc tranh chấp nêu trên hoàn toàn có thể tránh được nếu giám sát tốt việc DNCK tách bạch việc quản lý tiền và chứng khoán của NĐT với tài sản của CTCK. Về bản chất, hợp đồng tiền gửi của khách hàng với NHTM hòan toàn khác với hợp đồng quản lý tài khoản tiền của NĐT tại CTCK; NHTM được phép sử dụng tiền huy động từ khách hàng như một nguồn vốn kinh doanh của mình trong khi CTCK không được phép sử dụng khoản tiền của NĐT ngoài mục đích thanh toán tiền mua chứng khoán của NĐT khi được uỷ quyền. Điều tương tự cũng được áp dụng cho danh mục CK của NĐT do công ty CK quản lý, trừ các danh mục chứng khoán đầu tư ủy quyền.

Qua những điều nêu trên, có thể thấy rõ ràng là về mặt hình thức, việc phá sản của một DNCK sẽ ảnh hưởng khác nhau đối với NĐT mở TKGD, Quỹ hay Nhà đầu tư ủy thác. Do vậy, các NĐT cần cân nhắc kỹ khi chọn CTCK để mở TKGD. Ngoài việc để ý tới các sản phẩm, tiện ích mà CTCK cung cấp, nhà đầu tư cũng cần để ý tới sức khỏe tài chính cũng như tính minh bạch trong việc quản lý tài chính của CTCK.

 

Theo ông, vào thời điểm này, về phía cơ quan quản lý nên làm gì?

Nói chung, UBCKNN cần sớm phát hiện ra các DNCK có khả năng sẽ bị phá sản thông qua các công cụ giám sát có sẵn, thay vì chờ đợi sự chủ động báo cáo của doanh nghiệp. UBCKNN cần thực hiện sâu sát hơn nữa việc quản lý các CTCK nhằm sớm phát hiện các CTCK lạm dụng tiền và chứng khóan của NĐT cũng như có vấn đề trong quản lý tài chính để bảo vệ NĐT khỏi các nguy cơ về mất mát tài sản khi mở TKGD.