Đề xuất nghiên cứu hình thành 28 khu TOD trên tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ

0:00 / 0:00
0:00
Phần lớn các khu TOD được đề xuất nghiên cứu phát triển quanh các nhà ga trên tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ, với phạm vi linh hoạt trong bán kính từ 1.000 m đến 3.000 m, tùy điều kiện từng khu vực.
Vị trí các ga trên tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ.

Vị trí các ga trên tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ.

Ban quản lý dự án Mỹ Thuận vừa kiến nghị Bộ Xây dựng làm việc với UBND các tỉnh, thành phố có tuyến đi qua nhằm thống nhất phương án tuyến, vị trí các công trình, quy hoạch khu vực TOD, quỹ đất phát triển TOD, cơ chế, chính sách và phương án triển khai. Đây sẽ là cơ sở để hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đường sắt TP.HCM - Cần Thơ.

Quy mô TOD không đồng nhất

Trong văn bản gửi Bộ Xây dựng, đại diện Ban quản lý dự án Mỹ Thuận cho biết, thời gian vừa qua, Liên danh tư vấn Dự án đường sắt TP.HCM - Cần Thơ đã rà soát, cập nhật các tài liệu do địa phương cung cấp và nghiên cứu định hướng quy hoạch TOD dọc hành lang tuyến trên cơ sở bám sát hướng tuyến, vị trí các nhà ga và depot để đề xuất mô hình phát triển phù hợp.

Việc nghiên cứu này nhằm xác lập cơ sở định hướng ban đầu cho phát triển TOD, phục vụ công tác lập quy hoạch chi tiết trong giai đoạn tiếp theo; đồng thời khai thác hiệu quả quỹ đất, nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống đường sắt khi tuyến đường sắt đưa vào vận hành.

Trên cơ sở đó, Liên danh tư vấn đã rà soát sơ bộ quỹ đất lân cận các nhà ga có tiềm năng phát triển đô thị, dịch vụ và logistics.

Theo phương án đề xuất, toàn tuyến có 16 ga, trạm đi qua 5 địa phương, gồm 7 ga, trạm tại TP.HCM; 2 ga tại tỉnh Tây Ninh; 4 ga, trạm tại tỉnh Đồng Tháp; 2 ga tại tỉnh Vĩnh Long và 1 ga tại TP. Cần Thơ. Các ga đều được định hướng phát triển các khu TOD gắn với chức năng vận tải hành khách, hàng hóa và phát triển đô thị, logistics.

Liên danh tư vấn cũng đã sơ bộ xác định 28 khu TOD dọc tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ. Trong đó, TP.HCM có 8 khu TOD, phân bố tại ga An Bình (1 khu), trạm Vĩnh Phú (1 khu), trạm Thạnh Xuân (2 khu), ga Tân Chánh Hiệp (1 khu), trạm Tân Tạo (2 khu) và ga Tân Kiên (1 khu); ga Vĩnh Lộc hiện chưa đề xuất phát triển TOD.

Tỉnh Tây Ninh được đề xuất 4 khu TOD, gồm 3 khu tại ga Thạnh Đức và 1 khu tại ga Tân An. Đồng Tháp có 7 khu TOD, gồm 2 khu tại ga Tam Hiệp, 2 khu tại ga Cai Lậy, 2 khu tại ga Cái Bè và 1 khu tại trạm An Hữu. Vĩnh Long có 2 khu TOD, bố trí tại ga Mỹ Thuận và ga Bình Minh. Trong khi đó, TP. Cần Thơ được đề xuất 7 khu TOD tập trung quanh ga Cần Thơ.

Theo kết quả nghiên cứu của đơn vị tư vấn, 28 khu TOD trên tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ có quy mô từ gần 8 ha đến hơn 1.238 ha, trong đó phần lớn dao động trong khoảng 50 - 150 ha.

Các khu TOD được nghiên cứu theo hướng linh hoạt, chủ yếu trong bán kính từ 1.000 m đến 3.000 m quanh các nhà ga, tùy điều kiện từng khu vực; riêng một số khu logistics và đô thị quy mô lớn có phạm vi nghiên cứu mở rộng trên 5 km.

Đáng chú ý, quy mô và phạm vi nghiên cứu TOD được xác định trên cơ sở đặc điểm phát triển của từng địa phương thay vì áp dụng một mô hình chung cho toàn tuyến. Đối với khu vực đô thị hiện hữu như TP.HCM, các khu TOD chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, tập trung khai thác quỹ đất tái phát triển, tăng khả năng tiếp cận hệ thống đường sắt và kết nối với mạng lưới giao thông công cộng hiện có.

Trong khi đó, tại Đồng Tháp, Vĩnh Long và TP. Cần Thơ, nhiều khu TOD được nghiên cứu với quy mô hàng trăm hecta, gắn với định hướng hình thành các khu đô thị mới, trung tâm thương mại, dịch vụ và logistics xung quanh các nhà ga.

Cách tiếp cận này được cho là vừa tạo dư địa khai thác hiệu quả giá trị gia tăng từ quỹ đất dọc tuyến đường sắt, vừa bảo đảm phù hợp với định hướng quy hoạch và điều kiện phát triển không gian của từng địa phương.

Đề xuất đầu tư công

Trước đó, vào tháng 6/2026, Ban quản lý dự án Mỹ Thuận đã báo cáo Bộ Xây dựng kết quả nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ.

Cụ thể, tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ có điểm đầu tại ga An Bình (phường Dĩ An, TP.HCM), điểm cuối tại ga Cần Thơ (phường Hưng Phú, TP. Cần Thơ), với tổng chiều dài khoảng 175,2 km. Tuyến đi qua 5 địa phương gồm TP.HCM, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long và TP. Cần Thơ.

Đây là tuyến đường sắt được đầu tư mới để vận chuyển chung hành khách và hàng hóa. Trong giai đoạn I, tuyến được xây dựng theo tiêu chuẩn đường đơn, khổ 1.435 mm; giai đoạn sau sẽ hoàn thiện thành đường đôi theo quy hoạch. Toàn tuyến bố trí 12 ga và 3 depot tại An Bình, Tân Kiên và Cần Thơ.

Về tiêu chuẩn kỹ thuật, tuyến được thiết kế theo tiêu chuẩn đường sắt cấp II, tải trọng trục 22,5 tấn, chiều rộng nền đường 12,3 m và cự ly tim đường 4,3 m. Tốc độ thiết kế đối với tàu khách là 160 km/h, còn tàu hàng là 120 km/h. Bán kính đường cong nằm tối thiểu 2.000 m, độ dốc hạn chế 12‰.

Theo phương án công nghệ, đoàn tàu khách sử dụng động lực phân tán EMU, còn tàu hàng sử dụng động lực tập trung. Hệ thống điện khí hóa áp dụng nguồn điện xoay chiều 25 kV, kết hợp hệ thống thông tin truyền dẫn cáp quang, công nghệ IP/số cùng các hệ thống tín hiệu hiện đại như liên khóa điện tử, điều độ tập trung (CTC), khống chế tốc độ đoàn tàu (ATP) và thiết bị đếm trục phát hiện tàu.

Để phục vụ đầu tư hoàn chỉnh theo quy hoạch, Dự án dự kiến giải phóng mặt bằng khoảng 801,5 ha, trong đó có khoảng 479,13 ha đất nông nghiệp, bao gồm hơn 430 ha đất trồng lúa từ hai vụ trở lên.

Về phương án kỹ thuật, tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ được thiết kế theo nguyên tắc bảo đảm năng lực khai thác, an toàn vận hành, giao cắt khác mức với hệ thống đường bộ và hạn chế tối đa tác động đến môi trường khu vực tuyến đi qua.

Theo đề xuất, khoảng 56% chiều dài tuyến sẽ được xây dựng trên cầu, chủ yếu tại các khu vực đô thị, khu dân cư đông đúc, vị trí vượt sông hoặc giao cắt với các công trình hạ tầng hiện hữu nhằm bảo đảm khai thác liên tục. Khoảng 44% chiều dài còn lại sử dụng kết cấu nền đất tại những khu vực dân cư thưa, địa chất ổn định và ít chịu ảnh hưởng của ngập lụt.

Đối với các công trình cầu, giai đoạn I dự kiến xây dựng với bề rộng khoảng 6,5 m, chiều dài nhịp từ 24 m đến 450 m. Riêng vị trí vượt sông Hậu, phương án sơ bộ là bố trí tuyến đường sắt đi chung với cầu Cần Thơ 2; phương án kết cấu cầu dùng chung sẽ được nghiên cứu, hoàn thiện trong các bước tiếp theo.

Trên cơ sở khối lượng tính theo thiết kế sơ bộ, hệ thống định mức, đơn giá xây dựng, các chế độ, chính sách liên quan, suất đầu tư được công bố và suất đầu tư của các công trình đã triển khai tại Việt Nam, đồng thời tham khảo suất đầu tư các dự án tương tự trên thế giới, đơn vị tư vấn đã xác định sơ bộ tổng mức đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ.

Theo đó, phương án 1, với đường sắt đi chung cầu đường bộ khoảng 4,7 km tại vị trí vượt sông Hậu, có sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 171.300 tỷ đồng, tương đương 6,468 tỷ USD.

Phương án 2, trong đó cầu đường sắt đi riêng, tách biệt với cầu đường bộ, có sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 175.110 tỷ đồng, tương đương 6,611 tỷ USD.

Về hình thức đầu tư, đơn vị tư vấn cho rằng kinh nghiệm quốc tế đối với các dự án đường sắt đầu tư theo phương thức PPP cho thấy hình thức này không hẳn hiệu quả hơn đầu tư công, trong khi việc chuyển rủi ro sang khu vực tư nhân cũng không phải lúc nào mang lại kết quả tích cực. Một số quốc gia đã phải quốc hữu hóa các dự án hoặc tăng đáng kể mức hỗ trợ của Nhà nước đối với các dự án PPP.

Trên cơ sở quy mô nền kinh tế, khả năng huy động nguồn vốn và kinh nghiệm quốc tế, đơn vị tư vấn đề xuất lựa chọn hình thức đầu tư công để bảo đảm khả năng triển khai thành công Dự án.

Tin bài liên quan