Đề xuất thí điểm định giá đất với Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Khánh Hòa

0:00 / 0:00
0:00
Ngày 12/6, Tọa đàm chuyên đề “Định giá đất – Chìa khóa phát triển bền vững thị trường bất động sản” do Tạp chí điện tử Nhịp sống Thị trường (Markettimes) được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Hội Thẩm định giá Việt Nam (VVA).
Tọa đàm chuyên đề “Định giá đất – Chìa khóa phát triển bền vững thị trường bất động sản”.

Tọa đàm chuyên đề “Định giá đất – Chìa khóa phát triển bền vững thị trường bất động sản”.

Nhận diện điểm nghẽn

Theo TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA), định giá bất động sản hiện nay không còn là vấn đề kỹ thuật đơn thuần, mà đã trở thành một điểm nghẽn thể chế ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư, tín dụng, cổ phần hóa, đấu giá, bồi thường giải phóng mặt bằng, phát triển nhà ở, bất động sản công nghiệp, du lịch nghỉ dưỡng và thị trường vốn.

Giá bất động sản ngoài giá đất còn có: Chi phí giải phóng mặt bằng; chi phí xây dựng do vật liệu, nhân công; chi phí vốn và lãi vay; chi phí tài chính do chậm triển khai; chi phí marketing, bán hàng; chi phí cơ hội; chi phí dự phòng rủi ro; lợi nhuận doanh nghiệp…

Luật Đất đai 2024 đã bỏ khung giá đất, chuyển sang bảng giá đất hằng năm và yêu cầu giá đất tiệm cận thị trường; Nghị định 71/2024/NĐ-CP quy định phương pháp định giá đất, xây dựng bảng giá đất, giá đất cụ thể; Luật Giá 2023 điều chỉnh hoạt động thẩm định giá và điều kiện hành nghề thẩm định giá. Đây là bước tiến lớn, nhưng khi đi vào thực tiễn, doanh nghiệp vẫn gặp nhiều rủi ro và vướng mắc.

Trước hết, doanh nghiệp gặp rủi ro lớn về độ trễ giá. Giá đất về chi phí khác, giá bất động sản trên thị trường biến động nhanh, nhưng quy trình thu thập dữ liệu, thẩm định, phê duyệt giá đất cụ thể thường kéo dài. Khi giá được ban hành thì điều kiện thị trường đã thay đổi, làm cho phương án tài chính dự án bị đảo lộn.

Thứ hai là rủi ro về dữ liệu đầu vào. Giao dịch bất động sản thực tế còn tình trạng khai giá thấp, giao dịch ngoài hợp đồng, thông tin phân tán giữa thuế, công chứng, đất đai, ngân hàng, sàn giao dịch. Nếu không có cơ sở dữ liệu giá đủ tin cậy, mọi phương pháp định giá đều dễ bị tranh luận, thậm chí bị quy kết sai lệch.

Thứ ba là rủi ro về trách nhiệm pháp lý của người định giá và người quyết định giá. Nhiều cán bộ, tổ chức tư vấn, doanh nghiệp thẩm định giá có tâm lý e ngại: định giá thấp thì sợ thất thoát; định giá cao thì dự án không khả thi, doanh nghiệp không triển khai được, người dân không mua nổi. Vì vậy, định giá dễ rơi vào trạng thái phòng thủ, an toàn hình thức, nhưng lại làm chậm dòng vốn và chậm phát triển thị trường.

Thứ tư là rủi ro về chưa phân biệt rõ các mục đích định giá. Giá đất để tính tiền sử dụng đất, giá bồi thường, giá đấu giá, giá thế chấp ngân hàng, giá chuyển nhượng, giá cổ phần hóa, giá thuê đất… không thể áp dụng máy móc một mặt bằng giá như nhau. Mỗi loại giá có mục tiêu quản lý khác nhau, nhưng hiện nay ranh giới này chưa thật rõ.

Thứ năm là vướng mắc trong định giá các loại hình mới: bất động sản du lịch nghỉ dưỡng, condotel, officetel, bất động sản công nghiệp xanh, logistics, trung tâm dữ liệu, nhà ở cho thuê dài hạn, bất động sản nông nghiệp công nghệ cao. Đây là những loại hình có dòng tiền, thời hạn khai thác, chi phí vận hành, rủi ro pháp lý khác nhau, nhưng phương pháp định giá chưa theo kịp.

Còn ông Nguyễn Thế Phượng, Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Ban Nghiên cứu và Chuyển giao khoa học thẩm định giá, Hội Thẩm định giá Việt Nam cũng cho rằng, doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt với hàng loạt rủi ro trong quá trình xác định giá đất. Trước hết là độ trễ trong quá trình thu thập thông tin, thẩm định, phê duyệt và ban hành giá đất. Khi quyết định giá được đưa ra, điều kiện thị trường có thể đã thay đổi, khiến phương án tài chính của doanh nghiệp bị xáo trộn.

Một khó khăn khác là chất lượng dữ liệu đầu vào chưa phản ánh đầy đủ diễn biến thực tế của thị trường. Tình trạng kê khai giá giao dịch thấp hơn giá thực, thiếu dữ liệu chuẩn khiến công tác định giá gặp nhiều trở ngại.

Theo ông Phượng, tâm lý e ngại trách nhiệm của các tổ chức tư vấn, doanh nghiệp thẩm định giá và cơ quan phê duyệt cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Nếu định giá thấp sẽ tiềm ẩn nguy cơ thất thoát tài sản công, trong khi định giá quá cao lại khiến thanh khoản thị trường suy giảm, doanh nghiệp khó triển khai dự án và người dân khó tiếp cận nhà ở.

Ngoài ra, việc chưa phân biệt rõ mục đích định giá đối với từng loại giao dịch như tính tiền sử dụng đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, đấu giá, thế chấp ngân hàng, chuyển nhượng hay cổ phần hóa cũng dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình áp dụng.

Đặc biệt, các loại hình bất động sản mới như bất động sản nghỉ dưỡng, trung tâm dữ liệu, bất động sản công nghiệp xanh, khu công nghệ cao hay nhà ở cho thuê dài hạn vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn định giá riêng, trong khi đặc điểm dòng tiền, chi phí vận hành và mức độ rủi ro của các loại tài sản này hoàn toàn khác biệt.

Đối với quy định về hệ số điều chỉnh giá đất, ông Phượng cho rằng việc bóc tách và lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng như biến động thị trường, quy hoạch hay điều kiện hạ tầng vẫn còn nhiều khó khăn, khiến các địa phương lúng túng trong quá trình triển khai.

Đề xuất giải pháp khơi thông

Để khơi thông điểm nghẽn, TS. Nguyễn Văn Khôi đề xuất 8 giải pháp đột phá: Một là, cần xây dựng Sandbox về định giá bất động sản trong giai đoạn 2026–2028. Sandbox này nên thí điểm tại Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Cần Thơ và một số địa phương có thị trường bất động sản sôi động.

Nội dung thí điểm gồm: cơ sở dữ liệu giá giao dịch thực; bản đồ giá đất số; định giá tự động có kiểm chứng; thẩm định song song nhiều tổ chức độc lập; cơ chế phản biện giá trước khi ban hành; công khai biên độ giá tham chiếu theo khu vực, loại hình, thời điểm.

Hai là, thành lập cơ chế định giá độc lập nhiều tầng. Đối với dự án lớn, giá trị đất lớn hoặc có yếu tố Nhà nước, không nên chỉ dựa vào một đơn vị tư vấn. Cần có ít nhất 2–3 tổ chức định giá độc lập, sau đó Hội đồng thẩm định sử dụng, biên độ hợp lý. Cơ quan nhà nước quyết định giá nhưng không làm thay chuyên môn của tổ chức định giá.

Ba là, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá bất động sản liên thông giữa đất đai, thuế, công chứng, ngân hàng, sàn giao dịch, đăng ký giao dịch bảo đảm, đấu giá và cấp phép xây dựng. Dữ liệu phải phản ánh giá giao dịch thật, giá cho thuê thật, tỷ suất sinh lời, hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, hạ tầng, pháp lý dự án. Không có dữ liệu thật thì không thể có giá thị trường thật.

Bốn là, ban hành Bộ tiêu chuẩn định giá riêng cho từng nhóm bất động sản: nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, khu công nghiệp, logistics, du lịch nghỉ dưỡng, văn phòng, trung tâm thương mại, bất động sản nông nghiệp, tài sản hình thành trong tương lai. Mỗi nhóm phải có công thức dòng tiền, hệ số rủi ro, chi phí vốn, tỷ lệ lấp đầy, thời gian hoàn vốn và biên độ lợi nhuận phù hợp.

Năm là, cần có cơ chế bảo vệ người làm đúng. Tổ chức tư vấn, thẩm định viên, cán bộ thẩm định, thành viên hội đồng định giá nếu thực hiện đúng quy trình, sử dụng dữ liệu hợp pháp, có hồ sơ giải trình đầy đủ, không vụ lợi, không thông đồng thì phải được bảo vệ. Không thể để nỗi sợ trách nhiệm làm tê liệt quá trình định giá và phê duyệt dự án.

Sáu là, cần tách bạch giữa chống thất thoát tài sản công và bảo đảm khả năng hấp thụ của thị trường. Giá đất quá thấp gây thất thoát, nhưng giá đất quá cao cũng làm dự án chết, hàng hóa không ra thị trường, người dân không mua được nhà, Nhà nước không thu được thuế, doanh nghiệp không quay vòng vốn. Định giá đúng phải là định giá tạo được sự cân bằng giữa Nhà nước, doanh nghiệp, người dân và sự phát triển bền vững của thị trường.

Bảy là, kiến nghị cho phép áp dụng giá tham chiếu và biên độ giá thay vì một mức giá cứng trong một số trường hợp. Luật Giá 2023 đã có khái niệm giá tham chiếu; cần vận dụng vào bất động sản để thị trường có cơ sở so sánh, cơ quan quản lý có căn cứ điều tiết, doanh nghiệp có căn cứ xây dựng phương án tài chính.

Tám là, đối với nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà ở công nhân, cần có cơ chế định giá bất động sản riêng theo mục tiêu an sinh, không áp dụng tư duy định giá thương mại thuần túy. Nếu đầu vào lãi vay, thủ tục đều tính như nhà ở thương mại thì không thể có giá bán, giá thuê phù hợp với người thu nhập trung bình và thấp.

Còn đại diện Hội Thẩm định giá Việt Nam kiến nghị Chính phủ nghiên cứu thí điểm cơ chế định giá đất trong giai đoạn 2026-2028 tại một số địa phương có thị trường bất động sản phát triển. Đối với các dự án chuyển tiếp đã được giao đất nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính, cần cho phép áp dụng cơ chế tạm tính để doanh nghiệp sớm triển khai dự án, sau đó quyết toán theo mức giá chính thức.

Bên cạnh đó, ông Phượng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá bất động sản theo hướng liên thông giữa các lĩnh vực đất đai, thuế, công chứng, ngân hàng, sàn giao dịch, đấu giá và cấp phép xây dựng nhằm tạo ra nguồn dữ liệu phản ánh đúng giá giao dịch thực tế trên thị trường.

Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn định giá riêng cho từng phân khúc như nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, bất động sản du lịch, văn phòng, trung tâm thương mại, bất động sản nông nghiệp hay các loại tài sản mới trong tương lai. Mỗi loại hình cần có phương pháp xác định giá dựa trên đặc điểm dòng tiền, chi phí vốn và mức độ rủi ro riêng biệt.

Đáng chú ý, ông Phượng cũng kiến nghị cần có cơ chế bảo vệ đối với các tổ chức tư vấn, đơn vị thẩm định giá và thành viên hội đồng định giá khi thực hiện đúng quy trình, sử dụng dữ liệu hợp pháp và không có động cơ vụ lợi. Điều này sẽ góp phần giảm tâm lý e ngại trách nhiệm, qua đó rút ngắn thời gian xác định giá đất.

Đối với nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê công nhân, cần có cơ chế định giá riêng theo mục tiêu an sinh xã hội thay vì áp dụng hoàn toàn phương thức định giá mang tính thương mại.

Tin bài liên quan