Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore chia sẻ sự kiện "Triển vọng Đầu tư Giữa năm 2026", diễn ra tối ngày 17/9 tại TP.HCM.

Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore chia sẻ sự kiện "Triển vọng Đầu tư Giữa năm 2026", diễn ra tối ngày 17/9 tại TP.HCM.

Động lực tăng trưởng được duy trì, song cán cân ngoại thương đang là thách thức đáng lưu ý

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Nhận định của ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong nửa cuối 2026. 

Kinh tế sẽ tăng trưởng khoảng 8,8% trong nửa cuối năm 2026

Theo ông Suan Teck Kin, GDP của Việt Nam tăng trưởng lên mức 8,39% so với cùng kỳ trong quý II/2026, từ mức 7,94% của quý I/2026, ghi nhận tốc độ tăng trưởng quý II mạnh nhất kể từ năm 2011, đưa tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm lên 8,18%.

Tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng (10,51%), dịch vụ (7,87%) và nông nghiệp (4,06%), cùng với sự gia tăng của đầu tư công, đã thúc đẩy tổng vốn đầu tư cố định tăng 15,2%. Kết quả vượt kỳ vọng này cao hơn đáng kể so với dự báo 7,0% trước đó của chúng tôi và là cơ sở để chúng tôi nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 của Việt Nam lên 8,5%.

Dữ liệu gần đây cho thấy đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý III/2026. Sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ đều tăng 14,5% so với cùng kỳ trong tháng 7, trong khi chỉ số PMI ngành sản xuất tăng lên 52,9 điểm từ mức 51,8 điểm của tháng 6, đánh dấu mức cao nhất kể từ tháng 2.

Đơn hàng xuất khẩu cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh nhất kể từ tháng 7/2024. Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu tăng 21,7% so với cùng kỳ, đạt 319,5 tỷ USD, trong đó nhóm điện tử, máy tính và linh kiện đóng góp hơn 85 tỷ USD, cho thấy mức độ tham gia ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào làn sóng đầu tư và phát triển hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI) trên toàn cầu.

Căng thẳng tại Trung Đông đang tạo áp lực đáng kể lên cán cân ngoại thương của Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu tăng vọt 34,8% so với cùng kỳ, đạt 340,1 tỷ USD, khiến cán cân thương mại trong 7 tháng đầu năm 2026 chuyển từ mức thặng dư 10,4 tỷ USD của cùng kỳ năm trước sang thâm hụt 20,5 tỷ USD, vượt cả mức thâm hụt kỷ lục theo năm là 18 tỷ USD được ghi nhận vào năm 2008.

Năng lượng là yếu tố đóng góp lớn nhất vào xu hướng này, khi khối lượng nhập khẩu nhiên liệu tinh chế trong giai đoạn tháng 1 đến tháng 7 chỉ tăng 6%, nhưng giá trị nhập khẩu lại tăng mạnh 67,6%. Bên cạnh đó, nhập khẩu máy móc và thiết bị phục vụ đầu tư hạ tầng cũng đóng góp đáng kể vào mức tăng nhập khẩu. Ngay cả trong kịch bản giá dầu giảm giúp thu hẹp mức thâm hụt thương mại, thặng dư tài khoản vãng lai của Việt Nam nhiều khả năng vẫn sẽ thấp hơn đáng kể so với mức ghi nhận trong năm 2025.

Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore nhận định, chính sách hiện nay đang chuyển hướng sang các mục tiêu mang tính cấu trúc dài hạn. Nghị quyết 19-NQ/TW (ban hành ngày 28/7) đã định hình lại mô hình tăng trưởng theo hướng lấy năng suất và công nghệ làm động lực cốt lõi, với mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% trong giai đoạn 2026-2030 và đưa GDP bình quân đầu người lên 8.500 USD vào năm 2030. Bên cạnh đó, kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất của Quốc hội khóa XVI (diễn ra từ ngày 3 đến 24/8) cũng đã thúc đẩy việc sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản.

Tuy nhiên, khâu thực thi vẫn là thách thức lớn nhất, khi tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư mới chỉ đạt 39,0% trong tổng kế hoạch vốn kỷ lục 1,08 triệu tỷ đồng sau 7 tháng đầu năm 2026.

Chính sách thương mại tiếp tục là một yếu tố rủi ro đáng lưu ý. Mức thuế 10% theo Mục 122 đã hết hiệu lực vào ngày 24/7 và được thay thế bằng thuế quan theo Mục 301 liên quan đến lao động cưỡng bức. Việt Nam hiện thuộc nhóm chịu mức thuế 12,5%.

“Dự báo tăng trưởng năm 2026 của chúng tôi đã được điều chỉnh tăng lên 8,5%, hàm ý nền kinh tế sẽ tăng trưởng khoảng 8,8% trong nửa cuối năm 2026. Nhằm đạt được mục tiêu chính thức là 10% cho cả năm, tăng trưởng GDP trong 6 tháng cuối năm sẽ phải lên tới gần 11,9%, một mức được cho là vẫn khá thách thức ở thời điểm hiện tại”, ông Suan Teck Kin nói.

Việc FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên nhóm Thị trường Mới nổi Thứ cấp từ ngày 21/9 được kỳ vọng sẽ hỗ trợ dòng vốn đầu tư chảy vào thị trường. Những rủi ro chính bao gồm giá năng lượng tăng mạnh trở lại, khả năng Mỹ áp dụng các biện pháp thuế quan khắt khe hơn, cũng như nguy cơ chậm trễ trong quá trình giải ngân và triển khai đầu tư công.

Thanh khoản vẫn là tâm điểm áp lực

Cũng theo nhận định của ông Suan Teck Kin, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên chính sách, nhưng thanh khoản vẫn là tâm điểm áp lực.

Lạm phát đã hạ nhiệt khi CPI toàn phần giảm từ 4,69% trong tháng 6 xuống còn 4,45% trong tháng 7 và thấp hơn mức 5,0% ghi nhận trong tháng 4-5. Bình quân 7 tháng đầu năm 2026, lạm phát đạt 4,4%, xấp xỉ với mức trần 4,5% của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Giá nhiên liệu giảm, cùng với việc duy trì chính sách miễn giảm thuế xăng dầu, là nguyên nhân chính giúp lạm phát dịu bớt.

Đối với Việt Nam, giá dầu là một trong những yếu tố bên ngoài có tác động nhiều nhất trong ngắn hạn. Nếu giá dầu giảm, lạm phát sẽ tiến gần hơn tới mục tiêu 4,5%, chi phí nhập khẩu giảm, áp lực lên tỷ giá VND hạ nhiệt và NHNN sẽ có thêm dư địa điều hành chính sách. Ngược lại, nếu giá dầu tiếp tục neo ở mức cao hoặc tăng mạnh hơn, các áp lực này sẽ quay trở lại.

Tổng dư nợ tín dụng đã vượt 19,97 triệu tỷ đồng tính đến ngày 26/6, tăng 7,41% so với đầu năm và 18,1% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể so với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% cho cả năm, trong khi tốc độ tăng tiền gửi vẫn chậm hơn. Lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng đã tăng lên mức 6,5%-7,8%.

Để điều tiết thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ yếu sử dụng các nghiệp vụ thị trường mở, đồng thời loại trừ các khoản vay dành cho nhà ở xã hội và khu công nghiệp khỏi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng bất động sản, cũng như nới lỏng cách tính tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) theo Thông tư 25/2026. Tuy nhiên, những mất cân đối này tiếp tục duy trì tình trạng thanh khoản tương đối căng thẳng, khiến lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng đột biến.

Việc thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ không mang lại nhiều hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát do các yếu tố từ phía cung gây ra, trong khi dư địa nới lỏng cũng rất hạn chế khi lạm phát đang tiệm cận ngưỡng mục tiêu, tăng trưởng tín dụng vượt xa tốc độ huy động vốn và cán cân thương mại vẫn trong trạng thái thâm hụt. Do đó, UOB kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ duy trì lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,50% trong phần còn lại của năm 2026 và kéo dài sang năm 2027.

Công cụ phù hợp hơn để hỗ trợ tăng trưởng hiện nay là chính sách tài khóa, bao gồm đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thay vì dựa chủ yếu vào chính sách tín dụng hoặc lãi suất.

VNĐ dự kiến sẽ duy trì sự ổn định

Ông Suan Teck Kin cho biết, đồng VNĐ đã tăng giá cùng với nhiều đồng tiền châu Á khác trong tháng 8, tăng 0,8% lên mức 26.073 VNĐ/USD, tiếp tục cho thấy khả năng chống chịu đáng kể trước lập trường cứng rắn của Fed kể từ cuộc họp FOMC hồi tháng 6/2026.

Đáng chú ý, sự phục hồi này diễn ra ngay cả khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thiết lập tỷ giá trung tâm hàng ngày ở mức thấp kỷ lục 25.610 VNĐ/USD vào cuối tháng 8/2026, một sự phân kỳ mà trong lịch sử thường được điều chỉnh thông qua việc tỷ giá giao ngay quay trở lại mức cân bằng. Diễn biến này cho thấy đồng VNĐ có thể chịu áp lực giảm giá nhẹ trong ngắn hạn khi bước vào quý IV/2026.

Việt Nam ghi nhận tháng thâm hụt thương mại thứ tám liên tiếp trong tháng 7, với mức thâm hụt lên tới 3,59 tỷ USD, trong bối cảnh nhập khẩu tăng mạnh 41,4% so với cùng kỳ, vượt xa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 25%. Tình trạng thâm hụt kéo dài này đang trở thành lực cản ngày càng lớn đối với đồng VNĐ, đặc biệt nếu nhu cầu nhập khẩu tiếp tục duy trì ở mức cao cùng với quá trình mở rộng năng lực sản xuất trong nước.

“Tuy nhiên, xét trong trung và dài hạn, triển vọng ổn định của đồng VNĐ vẫn được duy trì nhờ động lực tăng trưởng kinh tế vững vàng, dòng vốn FDI mạnh mẽ (vốn FDI đăng ký trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng 61% so với cùng kỳ, đạt 34,65 tỷ USD) và sự điều hành chủ động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với tỷ giá USD/VNĐ. Dù vậy, việc thâm hụt thương mại tiếp tục mở rộng và khả năng Fed duy trì hoặc gia tăng mức độ thắt chặt chính sách tiền tệ vẫn là những rủi ro chính cần theo dõi. Chúng tôi dự báo tỷ giá USD/VNĐ ở mức 26.200 trong quý IV/2026, 26.100 trong quý I/2027, 26.000 trong quý II/2027 và 25.900 trong quý III/2027”, ông Suan Teck Kin cho biết.

Tin bài liên quan