Với kinh nghiệm nhiều năm xuất khẩu hàng sang các thị trường khó tính, các doanh nghiệp đủ tự tin để chinh phục khách hàng tại thị trường EFTA (Ảnh: Lê Toàn)
Chuẩn bị cho ký kết FTA thứ 18
Sau hơn một thập kỷ đàm phán với 21 phiên chính thức, Việt Nam và 4 nước thuộc EFTA, gồm Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein, đã ra Tuyên bố chung về việc kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) song phương Việt Nam - EFTA. Tuyên bố chung về việc kết thúc đàm phán đồng nghĩa với việc mở đường cho lễ ký kết FTA trong thời gian tới.
Là FTA thế hệ mới, hiệp định bao trùm nhiều lĩnh vực quan trọng như thương mại hàng hóa, dịch vụ, quy tắc xuất xứ, SPS, TBT, đầu tư, sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại, mua sắm chính phủ, thương mại và phát triển bền vững, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác và nâng cao năng lực.
Bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển, kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia nhận định: "Việc kết thúc đàm phán FTA này có ý nghĩa vượt ra ngoài một hiệp định cắt giảm thuế quan thông thường".
Theo bà Thúy, điều đó cho thấy, Việt Nam tiếp tục kiên định với đường lối hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đa dạng hóa thị trường, đối tác và nâng cao chất lượng quan hệ thương mại với các nền kinh tế châu Âu - nơi có trình độ phát triển cao, sức mua lớn và tiêu chuẩn phát triển bền vững thuộc nhóm hàng đầu thế giới.
Tuy nhiên, không nên chỉ nhìn FTA ở góc độ ưu đãi thuế quan. Theo bà Thúy, thị trường EFTA yêu cầu rất cao về tiêu chuẩn hàng hóa nhập khẩu, đồng nghĩa các nhà cung cấp trong nước phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.
Theo số liệu của EFTA, thương mại song phương năm 2025 đạt 4,8 tỷ EUR, trong đó Việt Nam thặng dư 2,5 tỷ EUR.
Con số này còn khá khiêm tốn so với nhiều FTA khác của Việt Nam, nhưng tiềm năng hợp tác rất lớn nhờ tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế. Khối EFTA có thế mạnh hàng đầu về công nghệ, đổi mới sáng tạo, tài chính, năng lượng sạch và phát triển bền vững, trong khi Việt Nam là trung tâm sản xuất, thương mại và đầu tư lớn của ASEAN. EFTA chủ yếu xuất khẩu sang Việt Nam máy móc điện, thủy sản, dược phẩm và máy móc cơ khí. Ở chiều ngược lại, các nước thành viên EFTA nhập khẩu từ Việt Nam máy móc điện, giày dép, hàng may mặc và máy móc cơ khí.
Trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư, ông Chu Hữu Nghị, Phó tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần May Hưng Yên - CTCP cho biết, doanh nghiệp chưa có giao dịch thương mại với khu vực EFTA. Tuy nhiên, khi "cánh cửa" thị trường mở ra nhờ FTA song phương, doanh nghiệp sẽ không bỏ lỡ cơ hội xúc tiến thương mại để có thêm đơn hàng xuất khẩu.
"Với kinh nghiệm nhiều năm xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường khó tính, tiêu chuẩn cao như Mỹ, EU, Hàn Quốc..., doanh nghiệp đủ tự tin để chinh phục khách hàng tại thị trường EFTA", ông Nghị nói.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu tác động của căng thẳng địa chính trị, chi phí logistics cao, chủ nghĩa bảo hộ thương mại gia tăng và các tiêu chuẩn xanh ngày càng chặt chẽ, một FTA toàn diện với EFTA sẽ giúp Việt Nam có thêm một kênh tiếp cận thị trường ổn định, minh bạch, qua đó giảm bớt sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
Quan trọng hơn, theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, khi FTA này được ký kết và đi vào thực thi, đây sẽ là đòn bẩy thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ các nước EFTA vào những lĩnh vực Việt Nam đang ưu tiên như công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng sạch, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tiếp cận công nghệ hiện đại và nâng cao năng lực quản trị.
![]() |
Lực hút từ sức mua vượt trội
Thực tế, những FTA thế hệ mới được đưa vào thực thi trong khoảng 4-7 năm trở lại đây như UKVFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP... đã và đang tạo "bệ phóng" cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, tăng xuất khẩu và tận dụng ưu đãi thuế quan.
Nếu EVFTA mở ra cánh cửa vào thị trường Liên minh châu Âu với quy mô hơn 450 triệu dân, GDP khoảng 21.400 tỷ USD; CPTPP với 600 triệu dân, GDP khoảng 15.800-17.000 tỷ USD, thì FTA với EFTA lại mang một ý nghĩa khác. Đây là "sân chơi nhỏ" nhưng hội tụ những tiêu chuẩn thuộc nhóm khắt khe nhất thế giới.
Khối EFTA với dân số khoảng 15 triệu người có vẻ không phải là thị trường quá lớn. Tuy nhiên, sức hấp dẫn của khối kinh tế này nằm ở sức mua vượt trội. Với GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt hơn 105.000 USD, cao gấp nhiều lần mức trung bình của EU, EFTA là thị trường nhập khẩu đầy tiềm năng, đặc biệt đối với các mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ và điện tử.
Điểm đáng lưu ý là các quốc gia EFTA đặt ra những tiêu chuẩn rất cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, để thâm nhập thị trường này, doanh nghiệp phải vượt qua những "bài kiểm tra" hết sức nghiêm ngặt.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, việc kết thúc đàm phán FTA với EFTA là tín hiệu tích cực trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, xu hướng bảo hộ gia tăng và các thị trường lớn ngày càng siết chặt tiêu chuẩn đối với thủy sản.
Theo VASEP, FTA Việt Nam - EFTA không nên được nhìn nhận như một "cú hích" về sản lượng ngay lập tức, mà là cơ hội mở thêm một nhóm thị trường có sức mua cao, tiêu chuẩn cao, phù hợp với định hướng nâng giá trị sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.
Hiện xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang khối EFTA chủ yếu tập trung tại Thụy Sỹ và Na Uy. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sang hai thị trường này đạt khoảng 52,6 triệu USD, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, nhưng cho thấy dư địa tăng trưởng ở phân khúc thị trường có sức mua cao.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản sang Thụy Sỹ đạt 13,437 triệu USD, giảm 15% so với cùng kỳ; trong khi xuất khẩu sang Na Uy đạt 7,027 triệu USD, tăng 36,7%.
"Nhìn tổng thể, FTA Việt Nam - EFTA là một bước tiến hội nhập có ý nghĩa với ngành thủy sản, nhưng không phải là lợi thế tự động. Cơ hội sẽ thuộc về những doanh nghiệp chuẩn bị sớm về chất lượng, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ, bao bì, nhãn mác và khả năng làm việc với các hệ thống bán lẻ, nhà nhập khẩu, foodservice tại Thụy Sỹ, Na Uy và Iceland", đại diện VASEP khẳng định.
Tại thị trường EFTA, thủy sản Việt Nam không chỉ cạnh tranh với các nước EU và Na Uy, mà còn phải đối mặt với các đối thủ như Anh, Nga, Quần đảo Faroe, Greenland và Trung Quốc.
Đến thời điểm này, trong số các nước châu Á xuất khẩu vào khối EFTA, Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia là những đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam.
Chỉ trong nửa đầu năm 2025, EFTA đã lần lượt ký FTA với hai quốc gia thành viên ASEAN là Thái Lan và Malaysia.
Như vậy, đến nay EFTA đã ký tổng cộng 5 FTA với các nước ASEAN, gồm Singapore (6/2002), Philippines (4/2016), Indonesia (12/2018), Thái Lan (1/2025) và Malaysia (6/2025).
Để tận dụng tối đa FTA với EFTA, bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam cần xem hiệp định này là cơ hội để tiếp tục nâng cấp vai trò của nhà xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn mới từ những nhà mua hàng khó tính.
Trên hết, thị trường EFTA đòi hỏi tiêu chuẩn cao, nhưng cũng chính vì vậy lại phù hợp với định hướng phát triển mới của Việt Nam là gia tăng giá trị gia tăng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bền vững và xây dựng thương hiệu quốc gia về hàng hóa có trách nhiệm.Cùng với đó, ưu đãi thuế quan chỉ thực sự có giá trị khi doanh nghiệp đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, hồ sơ chứng nhận, yêu cầu an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường.
"Doanh nghiệp nên bắt đầu chuẩn bị ngay từ bây giờ, bởi khoảng thời gian từ khi kết thúc đàm phán đến khi ký kết, phê chuẩn và thực thi là giai đoạn quan trọng để rà soát năng lực nội bộ. Chuẩn bị sớm sẽ có lợi thế khi hiệp định chính thức có hiệu lực", đại diện Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại khu vực này nhấn mạnh.
