Quyền sở hữu hợp pháp của người nộp thuế được pháp luật bảo vệ

Quyền sở hữu hợp pháp của người nộp thuế được pháp luật bảo vệ

Hiểu đúng luật để không hoang mang

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Gần đây, xuất hiện những cách diễn giải cho rằng từ năm 2026, hộ kinh doanh chậm nộp tiền phạt có thể bị cưỡng chế sang tài sản riêng của các thành viên trong gia đình. Đây là cách hiểu chưa chính xác.

Luật bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của người nộp thuế

Theo Khoản 5, Điều 4 - Nghị định 296/2025/NĐ-CP (Nghị định 296) quy định về nguồn tiền khấu trừ và tài sản kê biên đối với tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cụ thể như sau: Khấu trừ tiền, kê biên tài sản, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, tài sản chung của hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác; trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế thì khấu trừ tiền, kê biên tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.

Quy định này khiến nhiều người băn khoăn khi cho rằng, từ năm 2026, hộ kinh doanh chậm nộp tiền phạt có thể bị cưỡng chế sang tài sản chung của các thành viên trong gia đình. Đây là cách hiểu chưa chính xác.

Ông Lê Văn Hải - Phó Ban pháp chế, Cục Thuế, Bộ Tài chính cho rằng, trong quá trình hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản lý thuế và xử lý vi phạm hành chính, việc hiểu và áp dụng đúng phạm vi điều chỉnh của từng đạo luật, nghị định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự an toàn pháp lý của người dân và hộ kinh doanh.

“Gần đây, xuất hiện những cách diễn giải cho rằng, từ năm 2026, hộ kinh doanh chậm nộp tiền phạt có thể bị cưỡng chế sang tài sản riêng của các thành viên trong gia đình. Nhận định này cần được xem xét, phân tích lại một cách khách quan và khoa học trên cơ sở hệ thống pháp luật hiện hành và pháp luật mới được ban hành”, ông Hải nói và cho biết thêm, Điều 124 - Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định rõ ràng, khép kín các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế, bao gồm các biện pháp tác động trực tiếp đến tài sản, quyền tài sản và hoạt động kinh doanh của chính người nộp thuế. Luật không đặt ra cơ chế mở rộng hay liên đới trách nhiệm tài sản sang các chủ thể khác nếu họ không phải là người nộp thuế theo quy định pháp luật.

“Đặt quy định này trong mối tương quan với Nghị định 296 cho thấy ranh giới pháp lý rất rõ. Điều 1 - Nghị định 296 xác định phạm vi điều chỉnh của nghị định là cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời loại trừ các lĩnh vực đã được luật chuyên ngành quy định đầy đủ và riêng biệt về cưỡng chế. Lĩnh vực thuế là lĩnh vực điển hình thuộc trường hợp này, đã được điều chỉnh toàn diện bởi Luật Quản lý thuế”, ông Hải nói.

Từ sự phân tích trên, ông Hải cho rằng, việc viện dẫn cơ chế cưỡng chế chung theo Nghị định 296 để suy diễn áp dụng trực tiếp cho cưỡng chế thuế là không phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật, dễ dẫn đến hiểu sai bản chất của Điều 124 - Luật Quản lý thuế năm 2019 và làm gia tăng tâm lý lo ngại không cần thiết trong xã hội.

Xác định rõ trách nhiệm gắn với chủ thể nộp thuế cụ thể

Hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh chỉ có thể yên tâm chuyển đổi, minh bạch hóa hoạt động khi họ tin rằng quyền tài sản hợp pháp của mình được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, không bị mở rộng trách nhiệm một cách tùy tiện thông qua diễn giải sai, hoặc áp dụng chồng chéo văn bản pháp luật.

Ông Lê Văn Hải, Phó Ban pháp chế, Cục Thuế, Bộ Tài chính

Luật Quản lý thuế năm 2025 được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Riêng các quy định liên quan trực tiếp đến hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh được áp dụng sớm hơn, kể từ ngày 1/1/2026, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương thức quản lý, kê khai và nộp thuế theo hướng minh bạch, hiện đại.

Điểm cần nhấn mạnh là Luật Quản lý thuế năm 2025 tiếp tục kế thừa nguyên tắc cốt lõi của Luật Quản lý thuế năm 2019 về bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của người nộp thuế. Luật không thiết lập cơ chế “liên đới mặc nhiên” về tài sản đối với các thành viên hộ gia đình, mà vẫn xác định rõ trách nhiệm thuế gắn với chủ thể nộp thuế cụ thể, theo đúng nguyên tắc pháp quyền và an toàn pháp lý.

Cụ thể, Khoản 1, Điều 49 - Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 (Luật Quản lý thuế năm 2025) quy định biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế như sau:

Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phong tỏa tài khoản; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; ngừng sử dụng hóa đơn; thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ; kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật; nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh, đăng ký hoặc giấy phép hoạt động kinh doanh nền tảng thương mại điện tử.

Như vậy, Luật Quản lý thuế năm 2025 chỉ quy định các biện pháp cưỡng chế (cưỡng chế từ tài khoản, khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập, kê biên tài sản, tiền và tài sản khác…) của đối tượng bị cưỡng chế - tức người đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa, chỉ những pháp nhân (người đứng tên đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh…) mới là đối tượng thi hành các biện pháp cưỡng chế, các trường hợp khác sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh của quy định này.

Là người đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực pháp luật về thuế, ông Lê Văn Hải cho rằng, từ góc độ tài chính công và môi trường đầu tư kinh doanh, việc duy trì ranh giới pháp lý rõ ràng trong cưỡng chế thuế có ý nghĩa then chốt. Hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh chỉ có thể yên tâm chuyển đổi, minh bạch hóa hoạt động khi họ tin rằng quyền tài sản hợp pháp của mình được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, không bị mở rộng trách nhiệm một cách tùy tiện thông qua diễn giải sai, hoặc áp dụng chồng chéo văn bản pháp luật.

“Có thể khẳng định rằng, hiểu đúng Điều 124 - Luật Quản lý thuế năm 2019 trong mối quan hệ với Điều 1 - Nghị định 296, đồng thời đặt trong lộ trình hiệu lực của Luật Quản lý thuế năm 2025, sẽ giúp loại bỏ những lo ngại không cần thiết, củng cố niềm tin của người dân và hộ kinh doanh vào định hướng cải cách thuế hiện nay là quản lý hiện đại, đồng hành và hỗ trợ, chứ không phải gia tăng rủi ro pháp lý ngoài khuôn khổ luật định”, ông Hải nhấn mạnh.

Tin bài liên quan