Ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Tăng trưởng hai con số và giới hạn của chính sách tiền tệ

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực rất lớn cho nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, áp lực lạm phát gia tăng và dư địa chính sách tiền tệ không còn dồi dào, bài toán đặt ra là phải điều hành chính sách linh hoạt, đồng thời phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa và các kênh dẫn vốn khác để vừa đảm bảo ổn định vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng.

Nền tảng vĩ mô - điều kiện tiên quyết của tăng trưởng hai con số

Tại Hội thảo “Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số” do Báo Lao Động tổ chức chiều 12/3/2026, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu “phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên".

Theo ông Hà, đây là mục tiêu chiến lược, thể hiện quyết tâm và khát vọng phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy tăng trưởng kinh tế cao chỉ thực sự bền vững khi gắn với môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro từ xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng và các cú sốc bên ngoài, yêu cầu điều hành chính sách kinh tế vĩ mô ngày càng cao. Trong đó, chính sách tiền tệ cần được điều hành chủ động, linh hoạt để hài hòa mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

Không chỉ đảm bảo quy mô cung ứng vốn cho nền kinh tế, chất lượng tín dụng cũng là yếu tố cần được chú trọng. Theo lãnh đạo NHNN, dòng vốn tín dụng cần tiếp tục được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng mới.

Ông Hà cho biết, trong giai đoạn tới, tín dụng cần được định hướng nhiều hơn vào các lĩnh vực gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn sẽ là những trụ cột quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Chính sách tiền tệ linh hoạt trước áp lực thanh khoản, lãi suất và tỷ giá

Ông Nguyễn Lê Nam, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN thông tin, thời gian qua NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động và linh hoạt, phù hợp với diễn biến của thị trường trong nước và quốc tế, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

NHNN đã điều tiết tiền tệ hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát, đồng thời đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế và ổn định thị trường ngoại tệ. Áp lực thanh khoản gia tăng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đạt mức cao nhất trong vòng 15 năm trở lại đây, song cơ quan điều hành đã triển khai đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để đảm bảo thanh khoản cho hệ thống tổ chức tín dụng.

Ông Nguyễn Lê Nam, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN.

Ông Nguyễn Lê Nam, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN.

Các công cụ như nghiệp vụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ, theo ông Nam, được sử dụng linh hoạt nhằm cung cấp thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống ngân hàng khi cần thiết.

Về lãi suất, NHNN duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất thị trường và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, các tổ chức tín dụng được yêu cầu tiết giảm chi phí, đẩy mạnh chuyển đổi số và công khai thông tin lãi suất cho vay để nâng cao tính minh bạch và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.

“Trong khi đó, tỷ giá và cung - cầu ngoại tệ của nền kinh tế vẫn chịu áp lực trong bối cảnh hệ thống ngân hàng thực hiện chủ trương giảm lãi suất. Trước diễn biến này, NHNN đã điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, kết hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ và can thiệp ngoại tệ khi cần thiết để giảm áp lực lên thị trường”, ông Nam nói.

Đối với tín dụng, NHNN điều hành tăng trưởng tín dụng theo hướng an toàn và hiệu quả, đồng thời từng bước đổi mới phương thức điều hành theo lộ trình hạn chế và tiến tới xóa bỏ việc phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo Nghị quyết 62/2022/QH15 của Quốc hội.

Nguồn vốn tín dụng được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Ông Nam nhận định: “Nhờ đó, năm 2025 tín dụng toàn hệ thống tăng trưởng 19,11%, mức cao nhất trong vòng 15 năm qua. Trong những tháng đầu năm 2026, tín dụng tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực”.

Khi gánh nặng vốn vẫn đặt lên hệ thống ngân hàng

Theo lãnh đạo NHNN, nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ, ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục được giữ vững, lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ, thấp hơn đáng kể so với bình quân toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế thế giới đang xuất hiện thêm nhiều yếu tố rủi ro khi giá năng lượng tăng mạnh và căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động. Trong bối cảnh đó, nhiều ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trở nên thận trọng hơn trong việc hạ lãi suất, trong khi Ngân hàng Trung ương Úc thậm chí cân nhắc tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát.

Những yếu tố này, ông Nam cho biết, tạo sức ép lên tỷ giá và thị trường tiền tệ trong nước, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng và lạm phát toàn cầu.

Một thực tế đáng chú ý là mặc dù thị trường vốn Việt Nam đã có những bước phát triển trong thời gian qua, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Vì vậy, gánh nặng cung ứng vốn vẫn chủ yếu đặt lên hệ thống ngân hàng.

Ông Nam nhận định: “Năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 19,11%, mức cao nhất trong vòng 15 năm qua, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng kinh tế 8,02% của nền kinh tế. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cao trong khi tăng trưởng huy động vốn không theo kịp cũng tạo áp lực nhất định lên thanh khoản và lãi suất”.

Các đại biểu tham dự Hội thảo

Các đại biểu tham dự Hội thảo

Ngoài ra, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện đã vượt 144%, mức cao nhất trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp. Điều này tiềm ẩn những rủi ro nhất định đối với hệ thống tài chính, đặc biệt khi nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng trong khi nguồn huy động của các ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn.

“Trong bối cảnh dư địa điều hành chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng không còn nhiều, yêu cầu phối hợp giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trở nên quan trọng hơn bao giờ hết”, ông Nam nói.

Theo đó, chính sách tài khóa cần được triển khai theo hướng mở rộng có trọng tâm và trọng điểm, trong đó việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công có thể tạo tác động lan tỏa tới các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Trong khi đó, chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành chủ động và linh hoạt, ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh các nguồn vốn trong nước, việc tận dụng các cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng được xem là yếu tố quan trọng nhằm bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam hướng tới mục tiêu nâng hạng và kế hoạch hình thành các trung tâm tài chính quốc tế.

Trong bối cảnh đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, chính sách tiền tệ khó có thể tiếp tục “gánh” vai trò cung ứng vốn chủ đạo như trước, mà cần sự chia sẻ từ chính sách tài khóa và các kênh dẫn vốn khác của nền kinh tế.

Tin bài liên quan